Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thận và bài tiết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thận và bài tiết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Cà phê giúp nam giới tránh được ung thư tuyến tiền liệt

Uống cà phê điều độ mỗi ngày giúp quý ông tránh được những nguy cơ dẫn đến ung thư tuyến tiền liệt. Kết quả nghiên cứu này vừa được công bố bởi các giáo sư trường đại học Harvard (Mỹ).

Theo dõi thói quen uống cà phê hàng ngày của 47.911 người đàn ông Mỹ từ năm 1986 đến 2008, kết quả cuối cùng ghi nhận sau 22 năm có 5.035 người trong số này đã bị ung thư tuyến tiền liệt, bao gồm 642 nguời đã tử vong hoặc di căn.

Căn cứ vào bảng biểu thói quen uống cà phê hàng ngày của những người tham gia cuộc khảo sát trên, các nhà nghiên cứu khẳng định rằng người uống cà phê điều độ hàng ngày ít cho thấy dấu hiệu về nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, ngay cả khi họ vẫn duy trì các thói quen xấu như hút thuốc lá và không tập thể dục.

Vì thế các nhà khoa học đã chỉ ra, mỗi ngày nam giới uống từ 6 cốc cà phê trở lên sẽ giúp tránh từ 60% nguy cơ mắc loại bệnh ung thư nguy hiểm nhất có thể gây tử vong, đồng thời cũng giúp hạn chế 20% rủi ro mắc các triệu chứng u xơ tiền liệt tuyến thông thường. Kết quả cũng đúng với tất cả các loại cà phê dù được khử caffeine hay chưa.

Người đứng đầu nhóm nghiên cứu trường đại học Harvard cho rằng, sở dĩ cà phê giúp ngăn ngừa ung thư là nhờ sự can thiệp của chất chống ôxy hóa và chống viêm có trong thành phần của nó.

"Đây là nghiên cứu lớn nhất của chúng tôi từ trước đến giờ chứng minh cà phê giúp làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt", Giáo sư Lorelei Mucci, trưởng nhóm nghiên cứu trường đại học Harvard nói.

Theo asiaone.com, bệnh ung thư tuyến tiền liệt hiện phổ biến nhất ở đàn ông Mỹ với tỷ lệ cứ 6 nam giới thì có một người mắc bệnh này. Nguyên nhân được chỉ ra là do chế độ ăn uống với nhiều chất béo, bên cạnh yếu tố di truyền, uống rượu bia và tiếp xúc với hóa chất độc hại.

Thi Trân

Bí đái tại sao?

Người ta ví con đường đi của nước tiểu như một dòng sông, chúng được hình thành từ các cầu thận, chạy qua các tiểu quản để đổ vào đài thận rồi đến bồn thận. Từ bồn thận nước tiểu sẽ dẫn theo niệu quản và chảy vào bàng quang, để sau cùng là thoát ra ngoài qua niệu đạo.

Với một đường đi dài và phức tạp như vậy thì cũng có lúc nước tiểu bị tắc nghẽn. Trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến chứng tiểu khó do bất thường ở đường tiểu dưới (bàng quang và niệu đạo).

Vì sao có tình trạng bí tiểu?

Đi tiểu là một động tác theo ý muốn do sự kết hợp hài hòa giữa sự co bóp mạnh của bàng quang và sự giãn nở thật rộng của cổ bàng quang, đó là cơ vòng trong và cơ vòng ngoài (cơ vòng niệu đạo). Cơ vòng trong còn có tên là cơ vòng nhẵn, chịu sự chi phối của hệ thần kinh thực vật, còn cơ vòng ngoài chịu sự chi phối của não. Như vậy, muốn đi tiểu được phải có đủ các điều kiện: bàng quang co bóp đủ mạnh, các cơ vòng giãn nở đủ rộng, niệu đạo thông thương, không bị vướng mắc. Thiếu một trong các yếu tố trên sẽ dẫn đến bí tiểu.

Khi nào bàng quang không co bóp đủ mạnh?

Bàng quang là một cơ rỗng, có 3 lớp, chịu sự chỉ huy của hệ thần kinh thực vật hay tự chủ, do vậy sự co bóp của bàng quang là hiện tượng phản xạ xảy ra ngoài ý muốn. Khi bàng quang có đủ lượng nước tiểu từ 300- 400ml là xuất hiện cung phản xạ muốn đi tiểu. Nhưng đi tiểu là một động tác theo ý muốn, nếu chưa muốn đi tiểu não sẽ ức chế không cho cung phản xạ hoạt động, tức sẽ cắt đứt ngay luồng thần kinh của cung phản xạ thực vật chi phối mót tiểu đồng thời không cho cơ vòng vân mở rộng. Ngược lại nếu muốn đi tiểu, não sẽ thả lỏng cho cung phản xạ hoạt động và sai khiến cơ vòng vân mở rộng. Lúc đó bàng quang sẽ co bóp và tống nước tiểu thoát ra ngoài thành vòi với áp lực khoảng 700mm nước.

Bàng quang sẽ không co bóp đủ mạnh trong các trường hợp: mất sự liên hệ với hệ thần kinh thực vật, đặc biệt là khi bị chấn thương cột sống; thành bàng quang bị chai xơ do viêm mạn tính, mô đàn hồi bị thay thế bằng mô sợi làm bàng quang co bóp yếu.

Khi nào các cơ vòng nhẵn không giãn nở gây bí tiểu?

Cơ vòng nhẵn tức cổ bàng quang không giãn nở khi: mất liên lạc với hệ thần kinh thực vật, hay gặp trong các trường hợp chấn thương cột sống; cơ vòng bị xơ chai bẩm sinh hay do viêm mạn tính; cơ vòng bị biến dạng và chèn ép bởi u tiền liệt tuyến; bị bít kín do sỏi ở bàng quang. Bản chất của cơ vòng ngoài là luôn luôn co thắt lại. Lúc đi tiểu não sẽ ức chế sự co thắt này và làm giãn nở. Nếu vì lý do gì đó não không tác động được vào cơ vòng nữa sẽ gây bí tiểu như trong chấn thương cột sống.

Khi nào niệu đạo mất thông suốt gây bí tiểu?

Niệu đạo mất sự thông suốt khi bị chít hẹp do viêm làm xơ hóa, bị bít lại do sỏi, bị vỡ do chấn thương.

Các loại bí tiểu và biện pháp xử trí

Bí tiểu cấp tính là hiện tượng đột ngột bí tiểu, bệnh nhân cố rặn mới may ra có vài giọt nước tiểu thoát ra ngoài, trong khi đó thì bàng quang căng đầy, cảm giác rất tức bụng và đôi khi xuất hiện cơn co thắt. Nguyên nhân chủ yếu thường là do u lành tiền liệt tuyến gây chèn ép, sỏi mắc nghẽn tại cổ bàng quang hay niệu đạo, chấn thương vỡ, giập niệu đạo, chấn thương cột sống. Với tình trạng này bệnh nhân phải được thông tiểu ngay, đó là các biện pháp phẫu thuật lấy sỏi, giải quyết sự chèn ép đường tiểu, hoặc dùng các ống dẫn nước tiểu luồn vào niệu đạo tới bàng quang cho nước tiểu thoát ra ngoài.

Bí tiểu mạn tính là kết quả của tình trạng tiểu khó và tiểu không hết trải qua thời gian dài, nước tiểu tồn tại trong bàng quang ngày một tăng. Đến lúc nào đó bụng dưới hình thành khối cầu bàng quang lớn dần nhìn thấy được, to như quả bóng nhỏ. Bệnh nhân dần dần thích nghi với tình trạng bất thường này. Nhưng sự ứ đọng này vô cùng nguy hiểm với thận. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây ra sự căng trướng toàn bộ hệ tiết niệu, viêm nhiễm tiết niệu ngược dòng và suy thận. Lúc đó sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng. Do vậy biện pháp điều trị là thông đường tiểu qua da, giảm ngay sự căng trướng, ứ đọng của nước tiểu trong bàng quang, sau đó loại bỏ nguyên nhân gây bí tiểu.

Các trường hợp bí tiểu có nguyên nhân tại chỗ hoặc ở sự chỉ huy thần kinh trung ương hoặc thần kinh thực vật. Các nguyên nhân tại chỗ như sỏi bàng quang, u tiền liệt tuyến đều phải giải quyết bằng phẫu thuật hoặc nội soi. Các nguyên nhân khác có thể dùng thuốc hoặc can thiệp ngoại khoa. Tất cả các hiện tượng bí tiểu đều phải được nhanh chóng tìm ra nguyên nhân và có các biện pháp xử trí kịp thời, người bệnh (đặc biệt là nam giới lớn tuổi) cần phải đặc biệt chú ý đến điều này, nếu để lâu sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Nguồn: http://dulieunguon.blogspot.com/2008/10/b-i-ti-sao.html

Cây trinh nữ hoàng cung rất tốt với người mới mắc bệnh u xơ tiền liệt tuyến

Sau khi xem bài kinh nghiệm sử dụng cây trinh nữ hoàng cung của lương y Nguyễn Công Đức đăng trên tạp chí Đông y, tôi cùng một số anh chị em trong xã bảo nhau đi sưu tầm cây thuốc quý này để uống theo sự chỉ dẫn của lương y để chữa trị bệnh u xơ tiền liệt tuyến xem có hiệu nghiệm không.



Bản thân tôi thấy có biểu hiện mắc bệnh này từ năm 2005, lúc đầu đi tiểu thấy tức, khó đi, nước tiểu ra nhiều dòng, đến tháng 10-2006 tôi được cho đi điều dưỡng tại trung tâm chăm sóc vào bảo vệ sức khỏe cán bộ của ban Tổ chức tỉnh uỷ Phú Thọ, các bác sĩ siêu âm u xơ của tôi đã to 0,4cm. Thấy vậy tôi đã hỏi bác sĩ: "Có loại thuốc nào đặc trị được bệnh này không?" bác sĩ trả lời: "Hiện nay chưa có loại thuốc nào đặc trị bệnh này, ông phải chờ khi nào nó tăng lên 0,9cm đi mổ mới khỏi được". Điều dưỡng xong về nhà tôi rất lo phải đi mổ, liền lấy lá cây trinh nữ hoàng cung sắc nước uống theo hướng dẫn của lương y như sau:

-Lá tươi là tốt nhất, mỗi hôm dùng 3 lá dài 5 tấc rửa sạch thái nhỏ sắc còn 2 chén nước nửa chén uống sau bữa ăn (phụ nữ có thai không được uống).

-Lá khô: Mỗi ngày lấy 20g, cách sắc và uống như trên. Nữ uống đủ 49 ngày liên tục, nam uống đủ 64 ngày.

Nghe theo phần chỉ định của lương y, mấy anh em chúng tôi cùng bảo nhau uống. Vừa rồi ông bạn tôi là Nguyễn Văn Trác lúc đầu nặng hơn tôi nay đi siêu âm về một bên đã teo hết, một bên còn lại 3cm. Còn tôi chưa đi siêu âm nhưng bệnh đã thấy khác trước, đi tiểu rất thông, nước tiểu ra một dòng không thấy khó chịu như trước nữa.

Vậy tôi xin phổ biến và in mẫu cây trinh nữ hoàng cung để các vị có bệnh dễ tìm khỏi nhầm sang cây khác (như loại cây hoa loa kèn) để dùng thử loại thuốc không mất tiền rất hiệu nghiệm xem có khỏi bệnh như tôi không. Xin cảm ơn lương y Nguyễn Công Đức.n

Bùi Văn Phúc
(Chủ tịch Hội NCT xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=246, đăng 26/3/2008

Bệnh thận mạn tính nguyên nhân và cách điều trị

Các dấu hiệu mắc bệnh

Chronic Kidney Disease là thuật ngữ chuyên môn nói về căn bệnh suy thận mạn tính, có dấu hiệu như ăn không ngon, mệt mỏi bất thường, thiếu sinh khí, đi tiểu nhiều, uống nước nhiều, tiểu khó, tiểu đục, tiểu ra máu, đau bụng, đau dọc những vùng thắt lưng, huyết áp cao hay bị chuột rút. Nguyên nhân là do thận không làm được chức năng vốn có, nhất là chức năng lọc các chất thải của máu và điều tiết quá trình lưu thông dòng máu. Theo nghiên cứu thì thận làm việc rất cần mẫn, ngay cả khi còn một quả hoặc bị tổn thương nó vẫn làm việc, điều này có ý nghĩa là quá trình mắc bệnh là quá trình âm ỉ và chậm chạp, bởi vậy nếu không khám định kì thì rất khó có thể biết được bệnh. Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác như đầu gối sưng, tay chân đau do tích nước, khó thở, đau da, buồn nôn và suy giảm sức khoẻ tình dục.

Nguyên nhân

Do mắc bệnh tiểu đường: Tiểu đường là căn bệnh cơ thể không sản xuất đủ in-su-lin (ở dạng tuýp 1) hoặc không sử dụng hiệu quả in-su-lin (tuýp 2). Cơ thể cần in-su-lin để bẻ gãy glu-cô (đường) có trong máu phục vụ cho việc sản xuất carbohydrate nhằm cung cấp năng lượng cho sự hoạt động của cơ thể. Nếu không được điều trị sẽ có quá nhiều đường trong máu. Theo tính toán có khoảng 20-40% người mắc bệnh tiểu đường tuýp 1 sẽ phát triển bệnh thận vào tuổi 50. bệnh thận rất ít khi xảy ra trong 10 năm đầu và chỉ xuất hiện trong vòng 15-20 năm sau khi mắc bệnh, tuy nhiên nếu điều trị tốt sẽ giảm nguy cơ gây biến chứng.

Bệnh huyết áp cao: Trường hợp mắc bệnh cao huyết áp cao sẽ gây ảnh hướng đến sức khoẻ các bộ phận khác trong cơ thể, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Cho đến nay có đến 90% số ca mắc bệnh cao huyết áp là không rõ nguyên nhân nhưng nó lại có liên quan đến lối sống ăn uống và sinh hoạt. Huyết áp cao gây phá huỷ các thành mạch máu trong thận, làm cho chức năng lọc máu của thận suy giảm nghiêm trọng.

Các nguyên nhân khác: Như nhiễm trùng đường niệu, bệnh về mạch máu, tuỳ tiện dùng thuốc chống viêm nhiễm cũng gây ảnh hưởng đến chắc năng lọc thận, hệ thống miễn dịch bị mắc bệnh và thay vì bảo vệ thận nó chống lại thận và coi thận như là một bệnh ngoại lai. Bị sốt rét và bệnh sốt vàng, sử dụng quá nhiều thuốc chữa bệnh, nhất là nhóm thuốc chống viêm nhiễm (NSAID) như Aspirin, lbuprofen, thuốc kích thích, phơi ra môi trường và mắc bệnh sỏi thận.

Chẩn đoán

Để chuẩn đoán người ta thường áp dụng một số cách như thử máu, thử nước tiểu, quét thận và sinh thiết thận. Một trong những phương pháp có hiệu quả nhất trong chuẩn đoán là đánh giá mức độ lọc glomeuralar của thận, gọi tắt là GFR. GFR được đánh giá bằng mức độ mi-li-lít của các sản phẩm phụ mà thận có thể lọc được trong vòng 1 phút. Người khoẻ mạnh, một phút thận có thể lọc được 90ml. Mức độ mắc bệnh thận có thể được phân thành 5 giai đoạn: Giai đoạn 1 có mức GFR trung bình nhưng bắt đầu có dấu hiệu tiềm mắc bệnh; Giai đoạn 2 GFR nhỏ hơn 90; Giai đoạn 3 GFR nhỏ hơn 60; Giai đoạn 4 nhỏ hơn 30 và giai đoạn 5 GFR nhỏ hơn 15 và đây là giai đoạn được xem là bệnh nặng. Thông thường khi ở giai đoạn 2 là lúc được xem là có dấu hiệu nghiêm trọng, nếu đến giai đoạn 4 mới phát hiện là quá muộn.

Điều trị

Điều trị bệnh thiếu máu: có thể truyền máu, bổ sung thêm sắt vì sắt rất cần cho việc sản xuất các tế bào máu đỏ, có thể dùng thuốc dạng viên hay tiêm.

Cân bằng phốt-phát: Khi mắc bệnh, hàm lượng phốt -phát sẽ tích lại trong cơ thể do thận không làm được chức năng đào thải lượng phốt-phát dư. Những người mắc bệnh thận nên tư vấn, hạn chế ăn thịt đỏ, sữa, trứng, cá hoặc dùng thuốc theo khuyến cáo của bác sĩ.

Bổ sung Vi-ta-min D: Đại bộ phận những người mắc bệnh thận đều có hàm lượng vi-ta-min D thấp, đây là khoáng chất rất cần cho xương. Lí do thận lại rất cần đến dưỡng chất này để hoạt hoá vi-ta-min D mà cơ thể thu được qua ăn uống hoặc từ ánh mặt trời. Nên bổ sung alfacalcidol hoặc calcitriol để tăng khả năng hấp thụ vi-ta-min D và giảm rủi ro phá huỷ xương.

Bệnh huyết áp cao: thường những người mắc bệnh thận lại kiêm cả cao huyết áp vì vậy phải điều trị song song cả hai bệnh này, đặc biệt là dùng các chất ức chế ACE.

Hạn chế dùng thực phẩm chứa nước khi bị bệnh thận không khả năng khử được nước cho cơ thể nên hạn chế dùng nước, nên sử dụng đồ ăn khô và dùng thuốc lợi tiểu để thải nhanh lượng nước dư thừa của cơ thể.

Phương án dùng thuốc: Nên khám và điều trị theo khuyến cáo của bác sĩ như dùng thuốc antihistamines (thuốc chống viêm nhiễm) để giảm đau, thuốc antinetics (thuốc chống ốm đau) để giảm chất độc tích tụ trong cơ thể do thận bị suy.

Giải pháp chạy thận hoặc cấy ghép thận: Chỉ áp dụng cho những người thận đã bị hỏng vẫn đang điều trị nhưng chức năng bị tê liệt.

Phương pháp phòng tránh: Để tránh nguy cơ mắc bệnh, ngay từ khi còn trẻ mọi người cần áp dụng lối sống khoa học, ăn uống cân bằng, hợp lí và đủ chất, hạn chế thức ăn chứa nhiều a-xít như ngêu, sò, cua thức ăn chứa nhiều a-xít ô-xa-líc, hạn chế ăn muối để giảm nguy cơ mắc bệnh huyết áp cao, không nên dùng hàn the, phẩm mầu để chế biến thức ăn. Nên uống nhiều nước để thận làm tốt chức năng lọc độc tố cặn bã ra ngoài (khi còn khoẻ chưa mắc bệnh) khẩu phần ăn cần chú ý đến hàm lượng cholesterol (hợp chất làm tăng huyết áp). Tăng cường ăn rau xanh, hoa quả. Ngoài ăn uống cần duy trì cuộc sống hoạt động, năng luyện tập thể dục thể thao, hạn chế nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch. Mỗi ngày nên duy trì 30 phút luyện tập thể thao sẽ đem lại hiệu quả tốt cho sức khoẻ, có thể chạy bộ, đi bộ hoặc chơi những môn thể thao mà bản thân ưa thích.

Khắc Nam(Theo MD-11/2008)

Uống nước lá tre bật ra sỏi thận

Vào năm 1996, quả thận bên phải của vợ tôi có 2 viên sỏi to, về khám ở Bệnh viện đa khoa Bắc Ninh. Siêu âm có kết quả: 1 viên 1,2cm, 1 viên 0,9cm. Theo lời khuyên của bác sĩ thì nên gắp ra, không nên tán vì đã quá to.

Gia đình đã làm thủ tục vào viện để mổ. Khi chờ ở phòng để làm thủ tục có nghe một bà người nhà bệnh nhân hỏi: “Chị vào chữa bệnh gì?”. Vợ tôi trả lời: “Mổ sỏi thận”. Bà ấy nói rất tự tin: “Tưởng bệnh gì chứ sỏi thận thì uống nước lá tre cũng ra làm gì phải mổ”. Vì đã quyết định rồi, hơn nữa còn bán tin bán nghi nên chúng tôi không thay đổi ý định. Khi mổ, bác sĩ đã lấy ra 2 viên sỏi nhẵn màu nâu, tôi có mang về nhà lưu lại. Hai năm sau vợ tôi lại thấy đau, đi siêu âm lại có viên sỏi tái phát. Đúng như lời bác sĩ dặn khi về phải uống thuốc chống tái phát. Lúc này mới hồi tưởng câu nói của bà già nọ. Thế là tôi bắt đầu lấy lá tre vào các buổi sáng, đun bằng siêu nhôm cho vợ tôi uống hằng ngày. Quá trình uống thì thấy dễ chịu. Đúng một tháng 16 ngày, một cơn đau dữ dội, hội chứng nôn. Theo chẩn đoán của trạm xá xã thì đây là sự vận động của viên sỏi. Trạm xá cho uống thuốc giãn đường tiết niệu. Đến đêm, vợ tôi đi tiểu thì viên sỏi rơi xuống chậu gây ra tiếng kêu. Viên sỏi bằng hạt ngô to tôi còn giữ lại. Từ đây vợ tôi không hề bị tái phát kể cả không uống nước lá tre nữa. Đúng như lời bà cụ nọ: “Uống nước lá tre ra sỏi thận”. Các bạn ai đó thử nghiệm xem.

Nguyễn Tiến Lộc
(Xã Cao Xá, huyện Tân Yên, Bắc Giang)
Theo nguoicaotuoi.org.vn

Bài đăng phổ biến