Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

5 loại hạt giúp dưỡng sắc

Chúng ta đều biết rau quả vốn giàu chất dinh dưỡng. Nhưng bạn có biết hạt của một số loại rau quả cũng rất tốt cho chị em phụ nữ! Xin giới thiệu với bạn 5 loại hạt vừa có lợi cho sức khoẻ, lại có tác dụng làm đẹp:



1. Hạt nho



Hạt nho có hàm lượng khoáng chất và amino axit phong phú, giúp tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể, loại trừ các phân tử gốc tự do. Ngoài ra, chất OPC trong hạt nho không chỉ có khả năng làm trắng da, xoá mờ vết thâm, mà còn có thể chống lão hoá, cải thiện tính đàn hồi của da. Có thể coi hạt nho là “đại công thần” trong công cuộc làm đẹp.



2. Hạt lựu



Thành phần polyphenol có trong hạt lựu rất hữu ích trong việc bảo vệ sức khoẻ và giữ gìn nhan sắc. Nó không chỉ cải thiện chức năng của não, làm giảm hiện tượng giãn tĩnh mạch và phục hồi thị lực mà còn giúp đề kháng lại các phân tử gốc tự do, làm giảm hiện tượng da bị mất đi collagen, duy trì tính đàn hồi cho làn da.



Tuy nhiên, người có vấn đề về tiêu hoá không nên ăn nhiều hạt lựu.



3. Hạt sơn trà





Giống quả sơn trà, hạt sơn trà có công dụng giảm mỡ máu, hỗ trợ tiêu hoá. Ngoài ra, hạt sơn trà còn có tính năng kháng khuẩn. Do hạt sơn trà khá cứng, nên để khô, tán thành bột, rồi hoà tan vào nước uống. 



4. Hạt dưa hấu



Hạt dưa hấu giàu vitamin E và kẽm, có tác dụng chống ôxy hoá, đồng thời cũng có công dụng dưỡng da làm đẹp, giúp lợi tiểu, và chống phù nề.



5. Hạt bí đao



  Trong hạt bí đao có các thành phần hoá học như saponin, axit linoleic…có tác dụng nhất định trong việc làm giảm mỡ máu và cholesterol mà không bão hoà các axit béo thiết yếu, khiến làn da trở nên trắng hồng, sáng mịn. Hạt bí đao tán nhỏ hoà tan trong nước uống còn có công dụng lợi tiểu, chống phù nề.



Lưu ý: hạt bí đao tính hàn, những người thể hàn tốt nhất không nên dùng.



Thực hiện: / Nguồn: Dân Trí

Chữa ho bằng hoa, lá và quả

Trong y học cổ truyền, để chữa ho dùng nhiều biện pháp khác nhau. Trong đó có sử dụng các loại hoa, lá, quả...



* Hoa mướp 12g rửa sạch hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, pha thêm 20g mật ong, uống thay trà trong ngày, mỗi ngày dùng 2 thang. Công dụng: thanh nhiệt giải độc, nhuận phế chỉ khái, chữa ho do cảm mạo phong nhiệt, có sốt, khó thở, tức ngực, khạc đờm vàng.



*Kim ngân hoa 30g sắc với 500ml nước trong 15 phút sau đó bỏ bã lấy nước, hoà thêm 50g mật ong chia uống nhiều lần trong ngày. Công dụng thanh nhiệt, nhuận phế chỉ khái, chữa ho do phế táo.



* Hoa bách hợp 30g, trứng gà 3 quả. Đem 2 thứ luộc chín, lấy trứng ra bóc vỏ rồi lại cho vào nồi đun tiếp chừng 20 phút, khi được ăn trứng và uống nước luộc. Công dụng: tư âm nhuận táo, khứ phong chỉ khái, dùng để chữa ho và khái huyết.



* Hoa mai khô 5g đem hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày, mỗi ngày dùng 2 lần. Công dụng: Thanh nhiệt tán uất, thậm chí chỉ khái, dùng để chữa ho do đàm nhiệt.



* Hoa mai khô 10g, khoản đông hoa 10g, gạo tẻ 60g, mật ong lượng vừa đủ. Đem gạo nấu thành cháo rồi cho hoa mai và khoản đông hoa đã tán thành bột và đun thêm 5 phút nữa, tiếp đó hoà thêm mật ong, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt nhuận phế, giáng khí hoá đàm, chỉ khái dùng để chữa ho do phong nhiệt và đàm nhiệt.



* Hoa sơn trà 30g sấy khô, tán bột hoà đều với 250g mật ong, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 thìa với nước ấm. Công dụng: nhuận phế hạ khí, trần khái hoá đàm, dùng để chữa ho và khái huyết.



* Hoa phù dung 50g, gan lợn và gia vị lượng vừa đủ. Đem hoa phù dung luộc cùng gan lợn, khi chín lấy gan lợn ra thái miếng, bỏ bã hoa, chế đủ gia vị, ăn gan lợn và uống nước luộc. Công dụng: bổ can dưỡng huyết, thanh phế chỉ khái, dùng để chữa chứng ho ở những người suy nhược cơ thể. Cũng có thể dùng hoa phù dung hãm uống thay trà cùng với đường phèn.



* Hoa cúc bách nhật (thiên nhật hồng hoa) 100 – 150g sấy khô tán bột uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 6g với nước đun sôi để nguội. Công dụng: Chỉ khái định suyễn, dùng để chữa ho có kèm theo khó thở do co thắt phế quản.



* Khoản đông hoa 15g, cúc bách nhật 15g, mật ong 250g. Hai thứ hoa đem sấy khô tán bột rồi hoà với mật ong, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 thìa với nước ấm. Công dụng: Nhuận phế hạ khí, chỉ khái định suyễn, dùng để chữa ho có kèm theo khó thở.



* Hoa đỗ quyên 150g sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g với nước đun sôi để nguội. Công dụng: trấn khái, chỉ khái, dùng để chữa các loại chứng ho.



* Hoa đu đủ đực 20g đem hấp với đường phèn lượng vừa đủ, chia uống vài lần trong ngày. Cũng có thể hấp kết hợp với há hẹ 10g, hạt chanh 10g. Để chữa ho gà dùng hoa đu đủ đực 20g, trần bì 20g, tang bạch bì tẩm mật 20g, bách bộ 12g, phèn phi 10g, tất cả sấy khô tán bột thật mịn. Trẻ em 1 – 5 tuổi mỗi lần uống 1 – 4g.



Quả lê:



Lấy 1 quả lê nặng khoảng 100g, cắt thành miếng nhỏ, nấu nhừ, bỏ bã, cô nước cốt thành cao, thêm đường vào đủ ngọt, trộn đều, chia làm 3 – 4 lần uống trong ngày. Khi uống hoà cao với nước sôi. Bài thuốc này dùng chữa ho, tiêu đờm, chữa viêm đường hô hấp có kết quả tốt.



- Lấy 1 quả lê, giã nát, vắt lấy nước đem cô đặc lại, cho ít mật ong vào khuấy đều (có người còn cho thêm nước gừng), bảo quản trong lọ kín dùng dần, mỗi lần uống hai thìa cà phê với nước đun sôi để ấm. Bài thuốc này có tác dụng trừ đờm, chỉ khái, dùng chữa các chứng ho do đờm nhiệt, ho kéo dài lâu ngày.



- Dùng lê giã lấy nước. Ngậm nước này trong họng, ngày nhiều lần sẽ khỏi mất tiếng.



Quả quất: Quả quất chín 10g, hoa hồng bạch 10g, hạt chanh 10g, rửa sạch, cho vào bát cùng với một ít mật ong hay đường phèn, đem hấp cơm 20 phút, lấy ra nghiền nát, chắt lấy nước để uống. Chữa ho gió, ho khan.



- Quất 10 quả, gừng tươi 6g, thiên trúc hoàng 6g. Sắc lấy nước uống ngày một lần. Chữa ho gà.



- Dùng quả quất với củ cải ép lấy nước uống. Chữa ho do phế nhiệt.



- Quất 2 quả (bỏ vỏ, hạt, vách múi), bột ngó sen một ít, đường 100g, một ít hoa quế, nấu chè ăn. Chữa ho, mất ngủ.



* Lá bạc hà tươi 50g vắt nước uống hàng ngày chữa ho có đờm.





Theo SK&ĐS

Cây lá Gan Sapa

Công dụng: Mát gan, lợi mật, giải độc, an thần, giúp tiêu hóa tốt. Chữa Viêm gan, sơ gan, Men gan cao, gan nhiễm mỡ



Cách dùng: sắc nước uống hàng ngày.



Giá: 120,000vnđ/1gói (1kg)







Theo thaoduocquy.vn

Dùng hoa để giảm béo

Y học cổ truyền có một số bài thuốc độc đáo giúp giảm tình trạng thừa cân béo phì bằng các loài hoa quanh nhà, quanh vườn, chẳng hạn như hoa cúc, hoa hồng, hoa nhài, hoa chanh...



Một số bài thuốc cụ thể:



1. Hoa hồng, hoa nhài, hoa chanh (có thể dùng hoa cam, hoa quýt, hoa quất thay thế), lá sen, xuyên khung mỗi vị 10 g, sắc uống mỗi ngày một thang. Cũng có thể hãm uống thay trà. Rất thích hợp cho những người béo phì có rối loạn lipid máu.



2. Cúc hoa 6 g, sơn tra 15 g, thảo quyết minh (sao thơm) 15 g. Các vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những phụ nữ béo phì kèm theo các triệu chứng: ngực sườn đầy tức, bụng trướng, kinh nguyệt không đều, có thể bế kinh, ngủ kém hay mê mộng, miệng đắng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhờn...



3. Kim ngân hoa, cúc hoa, sơn trà mỗi vị 10 g. Chắc vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu thuộc thể vị nhiệt thấp trở, biểu hiện bằng các triệu chứng hoa mắt chóng mặt, nặng đầu, tay chân buồn mỏi, chóng đói, miệng khát, thích uống mát, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính.



4. Hoa tam thất, sơn tra, hoa hồng mỗi vị 10 g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người thừa cân và béo phì kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hay hoa mắt, chóng mặt, ù tai.



5. Hoa lơ 350 g, tôm nõn (đã chín) 25 g, gừng tươi thái chỉ, muối, gia vị, mì chính, nấm gạo và dầu thực vật vừa đủ. Hoa lơ rửa sạch thái miếng, chần qua nước sôi, để ráo nước rồi đem trộn với tôm nõn, muối, mì chính, giấm chua thành dạng dưa góp, sau chừng nửa giờ là ăn được. Khi ăn cho thêm một chút dầu thực vật lên trên. Công dụng: Tư âm dưỡng huyết, hạ mỡ máu và giảm béo phì.



6. Hoa tam thất, hòe hoa, cúc hoa, mỗi vị 10 g. Ba loại hoa đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10-20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người bị thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mặt đỏ, dễ cáu giận, thích uống nước mát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ.



7. Giã cúc hoa 10g, hà diệp (lá sen) 20g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm tăng huyết áp.



8. Hoa sơn trà, lá sơn trà mỗi vị 6 g. Hai thứ đem hãm với nưới sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong người. Công dụng: hạ huyết áp, giảm mỡ máu, phòng chống thừa cân và béo phì.



(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Giảo cổ lam (3 bài)

Bài 1. Giảo cổ lam





Giảo cổ lam hay còn gọi là dây lõa hùng, trường sinh thảo hoặc thất diệp đảm, ngũ diệp sâm với danh pháp khoa học là Gynostemma pentaphyllum thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).



Nó là một loài cây thảo có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá. Cây đực và cây cái riêng biệt. Lá kép hình chân vịt. Cụm hoa hình chuỳ mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, các cánh hoa rời nhau xoè hình sao, bao phấn dính thành đĩa, bầu có 3 vòi nhuỵ. Quả khô hình cầu, đường kính 5 - 9 mm, khi chín màu đen. Cây mọc ở độ cao 200 - 2.000 m, trong các rừng thưa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên và một số nước châu Á khác.



Thành phần hóa học chính của thất diệp đảm là flavonoit và saponin. Số sapoin của thất diệp đảm nhiều gấp 3 - 4 lần so với nhân sâm. Trong đó, một số có cấu trúc hoá học giống như cấu trúc có trong nhân sâm (ginsenozit). Ngoài ra thất diệp đảm còn chứa các vitamin và các chất khoáng như selen, kẽm, sắt, mangan, phốtpho...



Thất diệp đảm là cây thuốc đã được dùng theo y học cổ truyền Trung Quốc. Người Trung Quốc từ lâu xem cây này như thuốc trường sinh, bởi lẽ người dân ở tỉnh Quý Châu uống trà thất diệp đảm thường xuyên thì sống rất thọ[cần dẫn nguồn]. Cây này còn được gọi là nhân sâm phương Nam hay nhân sâm 5 lá, mặc dù thực tế loài này không có họ hàng gì với nhân sâm đích thực. Cây này cũng được dùng ở Nhật Bản với tên amachazuru, ở Hàn Quốc với tên gọi dungkulcha và nhiều nước khác.



Ở Việt Nam, vào năm 1997 giáo sư Phạm Thanh Kỳ (Đại học Dược Hà nội) đã phát hiện cây thất diệp đảm trên núi Phan Xi Păng và được giáo sư Vũ Văn Chuyên (Đại học Dược Hà nội) xác định đúng là loại Gynostemma pentaphyllum. Ngoài ra, thất diệp đảm còn được tìm thấy ở một số địa phương thuộc vùng đồi núi phía Bắc.







Theo Wikipedia



Bài 2. Phép mầu Giảo cổ lam





Kể từ khi xuất hiện trên thị trường Việt Nam, nhiều câu hỏi bán tín bán nghi đã được đặt ra: Giảo cổ lam có chữa được bách bệnh như quảng cáo trên hộp trà? Công dụng của nó sẽ được phát huy bao nhiêu lâu sau khi uống?...



Để trả lời các câu hỏi trên, Trí Tri đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thanh Kỳ, nguyên trưởng bộ môn Dược liệu trường ĐH Dược Hà Nội, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về dược liệu Giảo cổ lam (GCL).



Giảo cổ lam Việt Nam - Cùng họ với Giảo cổ lam Trung Quốc, Nhật Bản



Thưa GS, nguồn gốc nghiên cứu GCL có phải xuất phát từ Trung Quốc và Nhật Bản?



Đúng như vậy. GCL là một dược liệu rất quý hiếm và mới chỉ phát hiện thấy tại Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan. Cây này được nghiên cứu đầu tiên tại Nhật Bản với tên gọi Phúc âm thảo còn ở Trung Quốc gọi tên là Jaogulan.



Trong một lần đi công tác ở Trung Quốc, chúng tôi tình cờ được biết đến sản phẩm của thảo dược quý này và ngay sau khi về VN, nhóm nghiên cứu đã quyết tâm đi tìm.



Vậy nơi đầu tiên GS phát hiện ra cây GCL?



Nơi đầu tiên mà chúng tôi tìm thấy cây GCL là trên rừng nguyên thủy núi Phanxipăng thuộc tỉnh Lào Cai, ở độ cao 2.000m.



Sau khi phát hiện ra GCL thì quá trình nghiên cứu dược liệu này diễn ra như thế nào, thưa GS?



Chúng tôi phải theo dõi để chờ cây ra hoa và đơm trái chứ không phải là xác định được ngay.



Chỉ khi cây có hoa, có quả thì mới xác định được tên khoa học của nó, lúc này thì mới có cơ sở để đối chiếu với các tài liệu của Trung Quốc xem nó có phù hợp hay không. Thời gian để làm được điều này mất cả năm trời.



Sau khi thực hiện được những bước trên thì mới bắt tay vào nghiên cứu sâu.



Việc đầu tiên trong quá trình nghiên cứu là xem cây GCL có thể sống được ở những vùng sinh thái nào để đi tìm tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy cây GCL thường xuất hiện ở những vùng có khí hậu mát.



Qua quá trình tìm kiếm, chúng tôi tiếp tục phát hiện ra ở Hoà Bình, Cao Bằng cũng tồn tại loại cây này.



Nghiên cứu tiếp theo là về thành phần hóa học của dược liệu. Việc nghiên cứu này nhằm mục đích đối chiếu với các thành phần hóa học của các nước công bố coi nó có tương ứng hay không.



Cuối cùng mới nghiên cứu độc tính cấp xem nó có độc hay không, nghiên cứu độc tính bán trường diễn coi có ảnh hưởng đến tính năng của máu, chức năng của gan hay không…



Thưa GS, vậy thành phần hóa học chủ yếu của cây GCL là gì?



GCL có hai thành phần chủ yếu là Saponin và Flavonoid. Saponin ở đây có cấu trúc triterpen kiểu dammaran, trong đó có nhiều loại giống với Nhân sâm và Tam thất. Flavonoid có tác dụng sinh học cao và chống lão hóa mạnh. Ngoài ra còn chứa nhiều acid amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se.



Vậy cây GCL có thành phần gây độc?



Qua kết quả nghiên cứu thì xác định cây không có độc tính.



Tốt hơn Trung Quốc!



Những tác dụng đã được khẳng định của GCL là gì, thưa GS?



Kết quả nhiên cứu cho thấy, hiện nay thành phần GCL ở VN tốt hơn ở Trung Quốc vì chúng ta vẫn đang khai thác ở dạng tự nhiên.



Qua thực nghiệm thì có một số tác dụng của GCL thể hiện rất rõ đó là:



- Làm hạ mỡ máu, nhất là giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, chống huyết khối và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não. Chống lão hóa, giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc.



- Tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của khối u.



- Tác dụng chống ôxy hóa, stress…



- Rất tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc gan; điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên làm giảm béo tốt, nhất là béo bụng, béo đùi.



Hiện nay GCL được chế biến như thế nào, thưa GS?



Sau khi nghiên cứu thấy công dụng tốt của GCL thì mới tính đến dạng bào chế. Dạng đầu tiên và dễ dàng nhất là dạng chè. Sau đó mới tính đến chuyện chế biến thành thuốc.



Hiện nay thì mới có dạng chè và dạng viên do cơ sở Tuệ Linh sản xuất. Còn dạng thuốc thì chúng tôi còn phải tiếp tục nghiên cứu sau đó sẽ xin phép Cục quản lý dược để đưa vào sản xuất. Dự kiến trong năm 2008 sẽ sản xuất GCL dạng thuốc.



Vậy GCL mà cơ sở Tuệ Linh sản xuất dưới dạng chè và dạng viên có có được gọi là “thuốc” không thưa GS?



Chúng ta cần phải quan niệm như thế này, chè GCL không phải là thuốc. Dạng viên hiện nay cũng có tác dụng như chè mà thôi, đây chỉ là cách chế biến để người dùng dễ sử dụng vì không phải ai cũng thích uống chè.



Công dụng của dạng này là khi uống vào sẽ có tác dụng hỗ trợ giúp cho ổn định trong quá trình điều trị bệnh bằng thuốc tây y, đồng thời tăng cường hệ miễn dịch nâng cao sức khỏe.



Ví dụ như: Một người bị cao huyết áp, khi dùng thuốc tây sẽ giảm xuống thì chè GCL có tác dụng giúp cho ổn định còn thuốc huyết áp kia vẫn phải uống.



Giảo cổ lam - loài cây đỏng đảnh



Hiện nay rất nhiều người sử dụng chè GCL hàng ngày. Vậy nếu dùng liên tục thì có ảnh hưởng gì không thưa GS?



Như tôi nói ở trên là cây GCL không có thành phần độc tính nên dùng bao nhiêu cũng không sao.



Nó có thể dùng thường xuyên liên tục trong ngày. Nhưng khi sử dụng đến dạng viên hay dạng thuốc thì cần phải sử dụng theo chỉ định.



Ở đây người dùng cũng cần lưu ý một số điểm khi dùng dạng chè hay dạng viên của Giảo Cổ Lam:



- Nên uống GCL vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều, không uống lúc tối hoặc trước khi đi ngủ vì sẽ làm tỉnh táo, khó ngủ giống như uống nhân sâm.



- Người hay bị đường huyết, huyết áp quá thấp phải uống lúc ăn no hoặc thêm một vài lát gừng tươi.



- GCL làm tăng chuyển hóa cơ thể, do vậy khi uống xong có cảm giác nóng người, có khả năng sẽ tăng huyết áp nhẹ, khát nước, khô miệng vì vậy cần phải uống thêm nước lọc để cơ thể điều chỉnh về trạng thái ổn định…



GCL rõ ràng là một loại “thần dược” nhưng lại không quá hiếm vì như GS có kể là nó xuất hiện ở nhiều vùng núi phía Bắc như Lào Cai, Hòa Bình, Cao Bằng…Vậy, chúng ta đã có một nguồn nguyên liệu rất dồi dào?



Thực ra, tuy xuất hiện ở nhiều tỉnh vùng núi phía Bắc nhưng GCL lại khó ươm trồng. Hiện tại thì chỉ có Hòa Bình mới đáp ứng được điều kiện phát triển của cây và cho kết quả thành phần hóa học tương đối ổn định. Chúng tôi đã mang cây GCL đem trồng thử nghiệm ở một số tỉnh có khí hậu mát ở khu vực miền Bắc để duy trì nguồn thảo dược này nhưng thấy cây phát triển chậm, bên cạnh đó thành phần hóa học lại không ổn định.



Xin hỏi GS một câu hơi riêng tư một chút, điều GS trăn trở nhất trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình là gì?



(Cười). Đối với tôi thì có nhiều điều để trăn trở nhưng có lẽ điều tôi quan tâm nhất hiện nay là cần phải sớm phát hiện và duy trì sự tồn tại của các nguồn dược liệu quý mà thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam.



Tôi có đi công tác một số nơi ở vùng biên giới thường và hay quan tâm đến những cây mà người dân địa phương bán cho Trung Quốc. Trung Quốc đã thu mua thì chắc chắn họ đang làm một cái gì đó. Do vậy tôi thường hỏi và xin mẫu đem về nghiên cứu để từ đó chế biến phục vụ cho nhân dân mình. Nếu không phát hiện sớm thì chắc chắn người dân sẽ khai thác, bán hết và chúng ta đã vô tình đánh mất nguồn dược liệu quý.



Một điều tôi cũng băn khoăn, là hiện nay người dân chưa có ý thức bảo vệ các loại cây thuốc. Họ chỉ biết tìm kiếm rồi đem bán để lấy tiền chứ không nghĩ đến chuyện duy trì sự tồn tại của nguồn thảo dược.



Xin cảm ơn GS về cuộc trò chuyện!



Trên thực tế sử dụng GCL ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc sau khoảng vài tháng, người dùng sẽ thấy được những công dụng sau:

- 3 giúp: giúp ngủ ngon, giúp mạnh khỏe, giúp tiêu hóa.

- 3 chống: chống viêm nhiễm (nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể), chống ung thư, chống lão hóa.

- 3 giảm: giảm mệt, giảm béo, giảm căng thẳng.

- 6 tốt: ăn cơm ngon, nhuận tràng, ngủ được, tăng khả năng làm việc, giúp cơ thể trẻ lâu, mau lại sức.



Trong khi đó, GCL ở Việt Nam được các nhà khoa học nhận định là tốt hơn GCL của Trung Quốc và Nhật Bản.



Ngay cả khi nó chưa được chế biến thành chè hay thuốc thì theo kinh nghiệm dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam ở nơi có dược liệu này: Cây GCL có khả năng thanh nhiệt mạnh. Các trường hợp sốt cao, cảm nắng, người nóng bức, người bị ngộ độc rượu dùng rất tốt.



Hiện, có nhiều cây rất giống GCL nhưng thuộc họ Vitaceae nên không có tác dụng, thậm chí gây tiêu chảy khi sử dụng.



Tuy nhiên, tại Việt Nam, chỉ có duy nhất cơ sở Tuệ Linh là được phép sản xuất và cung cấp loại chè này ra thị trường và nguồn nhiên liệu thu mua tươi GCL đều được GS Phạm Thanh Kỳ trực tiếp kiểm định trước khi đưa vào sản xuất




Theo Trí Tri

Bài 3. Giảo cổ lam - Một dược liệu quý hiếm ở Việt Nam





Từ xa xưa Giảo cổ lam đã được sử dụng cho vua chúa để tăng sức khoẻ , kéo dài tuổi thọ va làm đẹp.



Giảo cổ lam(Jiaogulan), là một loại dược liệu có tên khoa học là Gynostemma pentaphyllum(Thunb). Makino Cucurbitaceae. Còn có tên là Cam Trà vạn, Thất diệp đởm, cây trường sinh, cây cỏ Thần kỳ, Sâm phương nam, Ngũ diệp sâm. Người Nhật gọi là Phúc âm thảo, hay Amachazuzu. Đây là một dược liệu đầu vị quý được ghi trong sách cổ “Nông chính toàn thư hạch chú” quyển hạ năm 1639. Từ xa xưa được sử dụng cho vua chúa để tăng sức khoẻ , kéo dài tuổi thọ va làm đẹp.



Giảo cổ lam bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1976 ở Nhật Bản ,việc phát hiện ra cây là do tình cờ khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi mà nguyên nhân là do người dân nơi đó thường xuyên uống cây này.



Giảo cổ lam bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1976 ở Nhật Bản ,việc phát hiện ra cây là do tình cờ khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi mà nguyên nhân là do người dân nơi đó thường xuyên uống cây này. Các nghiên cứu về Giảo cổ Lam hiện nay được thực hiện nhiều ở Trung Quốc,Mỹ, Đức, Italia. Có thể liệt kê một số nghiên cứu điển hình như:



- GS. Tan H., Liu Z.L.,Liu MJ. Chứng minh GCL có tác dụng kìm hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cường lưu thông máu lên não.



- Lin,J.M.,và cộng sự chứng minh GCL có tác dụng chống viêm gan, chứng cao huyết áp và chống ung thư. Có tác dụng chống viêm mạnh hơn Indomethacin



- Wang C. Và cộng sự chứng minh GCL kìm hãm sự phát triển của khối u mạnh.



Năm 1997 GS. TS. NGND Phạm Thanh Kỳ (nguyên Hiệu trưởng trường đại học Dược Hà Nội, chủ nhiệm bộ môn dược liệu) trong một lần đi công tác tại Lào Cai đã phát hiện thấy cây Giảo Cổ Lam trên núi PhanXipang. Sau khi được GS. NGND Vũ Văn Chuyên xác định tên khoa học chính xác là Gynostemma Pentaphyllum, GS Kỳ đã tra cứu tài liệu và biết rằng đây là một loại dược liệu quí đã đăng ký đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và được cấp ngân sách 120 triệu đồng (đề tài có mã số: KC.10.07.03.03).



Kết quả nghiên cứu cho thấy Giảo Cổ Lam có chứa hơn 100 loại Saponin cấu trúc triterpen kiểu damaran, trong đó có nhiều loại có cấu trúc rất giống với Saponin có trong Nhân sâm và Tam thất (vì vậy có tên Ngũ diệp sâm, Sâm nam). Giảo cổ lam còn chứa nhiều Flavonoid, chất có tác dụng sinh học cao và có tác dụng chống lão hóa mạnh. Ngoài ra còn có các Axit amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se. Đã thử độc tính cấp, trường diễn, bán trường diễn và xác định cây không có độc.



Các thử nghiệm Giảo Cổ Lam trên chuột và thỏ cho kết quả như sau:



+ Tác dụng giảm mỡ máu (Triglycerid và Cholesterorl): GCL ức chế tăng Cholesterorl 71% theo phương pháp ngoại sinh và 82,08% theo phương pháp nội sinh.



+ Tác dụng tăng lực (nghiệm pháp chuột bơi): GCL làm tăng lực 214,2%.



+ Tác dụng bảo vệ tế bào gan: đã chứng minh GCL bảo vệ tế bào gan mạnh trước sự tấn công của các chất gây độc (CCL4) và làm tăng tiết mật.



+ Tác dụng tăng đáp ứng miễn dịch: GCL làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào khi chiếu xạ hoặc gây độc tế bào bằng hóa chất Cyclophosphamid.



+ Tác dụng hạ đường máu: GCL có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt trắng. Trên chuột đái tháo đường di truyền, liều uống 500 mg/kg làm hạ đường huyết 22%, liều 1000mg/kg làm hạ tối đa tới 36%. Trong nghiệm pháp dung nạp glucose ở chuột nhắt trắng, liều uống 1000mg/kg đã ức chế sự tăng đường huyết tới 55% (sau 30 phút) và 63% (sau 60 phút) so với nhóm chứng. GCL gây hạ đường huyết yếu trên chuột bình thường nhưng lại có tác dụng khá mạnh trên chuột có đường huyết cao. Như vậy, ngoài cơ chế làm tăng tiết insulin GCL có thể cũng làm tăng nhạy cảm của mô đích với insulin.



+ Phòng ung thư: tỷ lệ ức chế khối u từ 20-80%, phòng ngừa u hóa tế bào bình thường.



+ Chống suy thoái tế bào: cho dịch chiết GCL vào môi trường vào nuôi cấy tế bào da người, số lần tái sinh tăng từ 20 lên 27 lần, kéo dài tuổi thọ tế bào 22,7%.



Đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện TƯ cho thấy:



- Giảo Cổ Lam làm hạ mỡ máu, nhất là đối với cholesterol toàn phần điều trị cho kết quả tốt, ngăn ngừa sơ vữa mạch máu, chống huyết khối vờ bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não.



- Giảo Cổ Lam làm giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Cải thiện các triệu chứng cơ năng cho bệnh nhân như giúp ăn ngủ tốt, hạn chế số lần tiểu đêm, nhuận gan, lợi mật, giúp tiêu hóa tốt, hết hoa mắt, chóng mặt, đau đầu do thiếu máu não.



Chính vì tác dụng kỳ diệu cho sức khỏe như vậy nên Giảo cổ lam còn được gọi là cây trường thọ, cây cỏ thần kỳ và được bán ở Trung Quốc và Nhật Bản với giá rất đắt (khoảng một đến bốn triệu đồng 1kg). Việc tìm thấy Giảo Cổ Lam ở Phanxipang Việt Nam minh chứng cho tiềm năng phong phú và đa dạng của dược liệu nước nhà và mở ra một triển vọng to lớn về xuất khẩu dược liệu ( cây Giảo Cổ Lam mỗi năm đem về ngoại tệ lớn cho Trung Quốc và rất được thị trường Mỹ và Châu Âu ưa chuộng).



Giảo cổ lam hiện nay đã có mặt trên thị trường Việt Nam dưới dạng trà túi lọc và dạng viên do tập đoàn Tuệ Linh sản xuất dưới sự cho phép và giám sát của GS.TS Phạm Thanh Kỳ, chủ nhiệm để tài cấp nhà nước về cây GCL. Hy vọng dược kiệu này sẽ đem lại nhiều sức khỏe cho mọi người.



Việt Báo (Theo_DanTri)

Chăm sóc tóc cho trẻ (2 bài)

Bài 1. 5 mẹo giúp con có mái tóc đen bóng tự nhiên





Nếu muốn con mình có được mái tóc bóng mượt và đen tự nhiên, cha mẹ hãy chú ý những điều sau:



1. Cân bằng dinh dưỡng



Chế độ dinh dưỡng cân bằng giúp việc lưu thông máu tới chân tóc được dễ dàng hơn, điều này hoàn toàn có tác dụng giúp cho tóc trở nên khỏe và đẹp hơn. Khi trẻ bước vào độ tuổi ăn dặm, người lớn cố gắng thêm vào chế độ ăn của trẻ những món ăn phù hợp, tránh hiện tượng trẻ chỉ chịu ăn một món chứ không chịu thử các loại thức ăn khác.



Duy trì cho trẻ thói quen chịu khó uống nước ngay cả khi không khát cũng là điều rất quan trọng. Trẻ có thể uống sữa, trái cây và rau quả kết hợp với các sản phẩm từ đậu nành, rong biển, tảo bẹ để cơ thể được cung cấp đầy đủ các vitamin và khoáng chất.



2. Gội đầu



Gội đầu giúp làm sạch tóc và bụi bẩn bám trong tóc và da dầu. Sau khi gội đầu, máu sẽ lưu thông tốt hơn, tránh gây ngứa, phồng rộp, nhiễm trùng và điều này có tác dụng giúp thúc đẩy tăng trưởng quá trình mọc tóc.



Khi ở trong giai đoạn tăng trưởng, sự trao đổi chất diễn ra rất mạnh. Vì vậy, đối với trẻ 6 tháng tuổi, người lớn nên thường xuyên lau đầu cho trẻ trong thời tiết nóng để tránh hiện tượng trẻ bị ra mồ hôi đầu.



Sau 6 tháng, cứ cách khoảng từ 2-3 ngày, người lớn hãy gội đầu cho trẻ 1 lần. Khi gội đầu cho trẻ, nên dùng loại dầu gội phù hợp dành cho trẻ sơ sinh và không có chất kích thích cho da dầu của bé.



Trong quá trình gội, người lớn có thể mát-xa da đầu nhẹ nhàng cho trẻ, dùng các ngón tay để ngăn không cho tóc bị rối vào nhau. Chúng ta vẫn cứ nghĩ rằng hành động này không có tác dụng gì nhưng thực tế nó lại rất tốt và có tác động tích cực tới quá trình mọc tóc của trẻ.



3. Chải tóc cho bé



Chải tóc thường xuyên cho trẻ giúp kích thích da đầu, thúc đẩy quá trình lưu thông máu và giúp tóc tăng trưởng tốt hơn. Tuy nhiên, vì da đầu của trẻ còn rất nhạy cảm nên chúng ta không thể dùng loại lược quá cứng và thô. Người lớn nên sử dụng loại lược bằng cao su mềm để tránh làm tổn thương da đầu của trẻ.



Ngoài ra, cha mẹ cũng cần phải căn cứ vào sự phát triển tóc của trẻ mà có phương pháp chải tóc cho phù hợp. Không nên chải tóc lúc còn ướt vì lúc này tóc rất yếu. Hãy để tóc trẻ khô, sau đó người lớn nhẹ nhàng chải kèm theo mát-xa da đầu nhẹ nhàng.



4. Thường xuyên tắm nắng



Ánh sáng mặt trời với cường độ thích hợp và không khí trong lành rất có lợi cho sự tăng trưởng tóc ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, người lớn chỉ nên cho trẻ đi tắm nắng vào lúc sáng sớm chứ không nên đi vào lúc buổi trưa vì thời điểm này, các tia bức xạ nhiệt rất mạnh và có thể gây tổn thương tới da đầu cũng như cho làn da của trẻ.



Nếu cần thiết phải đưa trẻ ra ngoài lúc trời quá nắng, người lớn nên cho trẻ đội mũ hoặc quàng khăn mỏng để tránh tóc của bé bị cháy nắng.



5. Ngủ đủ giấc



Không ngủ đủ giấc sẽ khiến trẻ cảm thấy mệt mỏi, thiếu ngủ và dễ bị rối loạn sinh lý, gây ra hiện tượng chán ăn. Điều này có ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình mọc tóc của trẻ. Tóc của trẻ sẽ không khỏe mạnh và không bóng mượt



Bài 2. Tóc bé mỏng và thưa, mẹ hãy làm theo cách này nhé!





Nếu tóc bé trai hay bé gái nhà bạn quá thưa mỏng, để kích thích tăng trưởng tóc mọc dài và dầy nhanh, cha mẹ nên làm theo các bước sau nhé!



Nhiều cha mẹ cho rằng, tóc của bé trai thường lâu tốt hơn của các bé gái. Tuy nhiên, dù là bé trai hay bé gái thì tóc vẫn dài ra hơn 1 cm hàng tháng đấy! Nếu tóc bé trai hay bé gái nhà bạn quá thưa mỏng, để kích thích tăng trưởng tóc mọc dài và dầy nhanh cha mẹ nên thực hành theo các bước sau nhé!



Mức độ thực hiện: Dễ dàng



Bước 1:



Cha mẹ trẻ nên sử dụng dầu gội phù hợp với da đầu và mái tóc của các bé ít nhất 1 lần/ tuần. Việc giữ tóc và da đầu sạch sẽ giúp tóc phát triển nhanh hơn vì các lỗ chân lông không bị tắc. Nếu bé của bạn sở hữu mái tóc khô, hãy sử dụng sản phẩm dầu gội dưỡng ẩm cho mái tóc. Nếu bé trai có mái tóc mỏng, sử dụng sản phẩm dầu gội cho tóc dày nhé!



Bước 2:



Thường xuyên massage đầu trẻ với dầu ô liu. Việc massage này sẽ kích thích tăng trưởng tóc bằng cách tăng lưu thông máu ở da đầu. Dầu ô liu không chỉ giúp làm ẩm da đầu mà còn tháo gỡ tắc nghẽn cho các lỗ chân lông, cho phép tóc mới dễ dàng phát triển. Vì thế bạn nên massage da đầu bé từ 3-5 phút mỗi lần và thực hiện khoảng 3 lần/ tuần.



Bước 3:



Bạn nên cung cấp cho trẻ những thực phẩm chứa nhiều protein như thịt gà không da, cá, lòng trắng trứng và rau có màu xanh. Điều này giúp duy trì và khôi phục lại những protein tự nhiên có trong mái tóc khỏe mạnh, giúp tóc mới mọc nhanh hơn và dày hơn. Ngoài ra, protein cũng giúp tạo ra sự tăng trưởng mới cho mái tóc của các cô bé, cậu bé.



Bước 4:



Bạn có thể bổ sung thêm các vitamin cho bé nhà bạn: Vitamin A giúp giảm bã nhờn ở da đầu; vitamin C giữ cho mái tóc khỏe mạnh và sáng bóng; vitamin D giúp tóc phát triển nhanh và hỗ trợ hệ thống miễn dịch khỏe mạnh cho mái tóc...



Bổ sung vitamin thường xuyên hoặc cung cấp cho các bé, đặc biệt là các bé trai mỏng tóc một chế độ ăn uống cân bằng, đầy đủ các thực phẩm giàu các chất bổ sung sẽ đảm bảo cho các bé có được các chất dinh dưỡng thích hợp cho tóc phát triển khỏe mạnh.



Theo Afamily

15 mẹo đơn giản trị da tàn nhang

Một chút tàn nhang hay nhiều đốm nám trên mặt sẽ không còn là nỗi lo của chị em nếu bạn làm theo các lời khuyên hữu ích sau.



1. Áp dụng thoa kem chua trên khuôn mặt của bạn. Theo đó, bạn nên thoa kem chua lên mặt và nhẹ nhàng massage cũng như lau sạch bằng khăn giấy mềm. Sau đó thoa lại làn da với một loại kem dưỡng ẩm tốt.



2. Nước chanh là một biện pháp khắc tự nhiên nhất cho những đốm tàn nhang. Để điều trị tàn nhang theo cách này, bạn hãy thoa nước chanh trên các khu vực bị tàn nhang. Nước cốt chanh sẽ giúp tẩy trắng các đốm đen do tàn nhang và nám.



3. Thường xuyên sử dụng mặt nạ trái cây kết hợp với rau lá mơ, dâu tây, dưa chuột và nho đỏ sẽ giúp làm sáng khuôn mặt có tàn nhang.



4. Rửa mặt với sữa chua cũng là một cách đơn giản để loại bỏ tàn nhang bởi vì các axit lactic giúp lột nhẹ nhàng da mặt mà không gây kích thích hoặc khô da.



5. Thoa mật ong vào khuôn mặt tàn nhang của bạn. Sau đó rửa sạch mặt với nước ấm và tráng lại với nước lạnh sau cùng. Bạn có thể khuấy thêm một số lượng nhỏ mầm lúa mì vào mật ong trước khi áp dụng thoa trên khuôn mặt tàn nhang.



6. Nước ép củ cải, nước trái cây hòa trộn với một chút bột yến mạch dabbed và tạo thành một mặt nạ để dán trên da cũng là phương pháp hữu ích để những nốt tàn nhang sáng hơn.



7. Áp dụng nước ép rau mùi tây trộn với một lượng bằng nhau của nước chanh, nước cam và nước ép nho đỏ để thoa và massage khắp khuôn mặt sẽ giúp bạn loại bỏ những đốm đen cho vết tàn nhang.



8. Áp dụng thoa dầu thầu dầu hoặc vitamin E vào ban đêm trước khi đi ngủ cũng giúp tái sinh cho làn da tàn nhang



9. Xay mù tạt vàng trong sữa và áp dụng thoa làm mặt nạ và để qua đêm. Bạn chỉ rửa mặt vào sáng hôm sau.



10. Hành cũng có thể được sử dụng để loại bỏ đốm tàn nhang và các đốm đồi mồi. Theo đó, bạn có thể áp dụng ép một lát hành tây đỏ và thoa vào các nốt tàn nhang hai lần mỗi ngày. Tiếp tục thoa cho đến khi nào tàn nhang phai.



11. Một chút thịt của quả bơ trên vùng da tàn nhang cũng giúp làm sáng da vùng này.



12. Trộn một lượng bằng nhau của bột củ nghệ và hạt vừng và áp dụng thoa chúng trên mặt có tàn nhang cũng sẽ mang hiệu quả bất ngờ.



13. Để làm sáng tàn nhang, nghiền 1/4 chén nho chưa chín và trộn với 1 muỗng canh mật ong chưa được tiệt trùng. Thoa chúng trên nốt tàn nhang và để trong nửa giờ. Sau đó, rửa sạch mặt với nước ấm và thoa nước cốt chanh tươi pha loãng.



14. Tăng cường lượng Vitamin C hàng ngày



Mặc dù không có chế độ ăn uống đặc biệt hoặc các loại thực phẩm giúp điều trị tàn nhang nhưng một chế độ ăn uống nhiều vitamin C sẽ giúp ngăn chặn sự xuất hiện tàn nhang trên da.



Bạn nên ăn nhiều rau quả tươi và ngũ cốc nguyên hạt vì chúng có chứa vitamin A, B và C cần thiết cho làn da khỏe mạnh.



Ngoài ra, nên ăn nhiều sữa, trứng, bắp cải, mầm lúa mì và men dinh dưỡng, các loại hạt vì giúp da dẻo dai, làm sáng da.



15. Sử dụng kem chống nắng chất lượng tốt để bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời có hại. Đội mũ vành rộng và áo chống nắng mỗi khi ra ngoài. Tránh đi ra ngoài từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều khi tia mặt trời có hại cho làn da tối đa.



Theo http://afamily.vn

Bài đăng phổ biến