Danh sách những loại thực phẩm dưới đây sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phòng ngừa và chữa trị các rắc rối thường gặp trong hệ tiêu hóa của cơ thể.
Những rắc rối của hệ tiêu hóa là tình trạng phổ biến, có thể ảnh hưởng đến nhiều người, bất kể tuổi tác. Các vấn đề về bao tử xuất phát từ nhiều nguyên nhân như sự căng thẳng, ngộ độc thực phẩm và dị ứng thức ăn.
Danh sách những loại thực phẩm dưới đây sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phòng ngừa và chữa trị các rắc rối thường gặp trong hệ tiêu hóa của cơ thể.
1. Rau mùi
Rau mùi sau khi đã được phơi khô sẽ giúp trị bệnh tiêu chảy và bệnh lỵ mãn tính. Đây cũng là loại gia vị đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc chữa trị tình trạng dư a-xít trong bao tử. Hỗn hợp gồm tiêu xanh, rau mùi khô, dừa nạo, gừng và nho đen được cho là có khả năng chữa trị các cơn đau bao tử do tình trạng khó tiêu hóa gây ra. Hòa hai muỗng canh nước ép từ cây rau mùi với một ít kem sữa tươi cũng là một phương pháp hữu ích để điều trị chứng khó tiêu, buồn nôn, kiết lỵ, viêm gan và viêm ruột kết.
2. Hạt thì là
Từ lâu, hạt thì là đã được biết đến với khả năng hiệu quả chữa trị các rắc rối xảy ra ở hệ tiêu hóa như tình trạng tiết mật quá mức, khó tiêu, tiêu chảy, ốm nghén và đau bụng do đầy hơi. Để chữa trị bệnh tiêu chảy cũng như các bệnh về đường tiêu hóa thường gặp, hãy dùng một muỗng canh hạt thì là đun sôi cùng một ly nước, sau đó tiếp tục hòa thêm một muỗng canh nước ép rau mùi và một ít muối. Uống loại nước thì là này mỗi ngày hai lần sau khi ăn.
3. Tỏi
Đây là một trong những loại gia vị có ích nhất đối với hệ thống tiêu hóa. Chúng giúp loại thải các chất thải độc hại ra khỏi cơ thể đồng thời còn thúc đẩy sự di chuyển của các chất lắng đọng trong ruột, kích thích sự bài tiết dịch tiêu hóa. Bạn có thể vắt lấy nước ép từ những củ tỏi rồi hòa cùng với nước hoặc sữa để uống nhằm chữa trị tất cả những vấn đề có liên quan đến hệ tiêu hóa. Tỏi cũng là một phương thuốc dân gian dùng để điều trị những căn bệnh viêm nhiễm ở bao tử và ruột đồng thời còn chữa bệnh tiêu chảy khá hiệu quả. Tỏi tươi được dùng để chữa những triệu chứng như kiết lỵ, viêm ruột kết. Để làm giảm bớt tình trạng tiêu chảy ở mức độ nhẹ hoặc kiết lỵ, bạn có thể dùng một viên thuốc được chiết xuất từ tỏi với liều lượng mỗi ngày 3 lần. Tỏi còn có khả năng giết chết các loại vi khuẩn nguy hiểm có trong ruột.
4. Gừng
Ói mửa, đau bụng, đầy hơi, các cơn co thắt và đau bao tử đều có thể được giải quyết triệt để bằng củ gừng. Phương thức sử dụng loại củ này cũng khá đơn giản, bạn chỉ cần nhai vài miếng gừng mỗi ngày sau mỗi bữa ăn. Hòa ½ muỗng canh nước ép gừng với 1 muỗng canh nước chanh tươi, 1 muỗng canh nước ép bạc hà và 1 muỗng canh mật ong để tạo thành loại thuốc giúp chữa trị hiệu quả chứng buồn nôn, khó tiêu, ói mửa do ăn nhiều đồ chiên xào hoặc những món ăn thiếu rau xanh.
Theo khuyến cáo, nên sử dụng dung dịch nói trên ba lần một ngày. Ngoài ra, bạn cũng có thể tăng cường thêm gừng trong chế độ ăn uống hàng ngày bằng cách sử dụng chúng trong việc chế biến, nấu nướng và trang trí món ăn. Khi được nấu chung với các loại đậu, gừng còn có công dụng giúp bao tử dễ tiêu hóa đậu hơn, ngăn ngừa tình trạng tích tụ hơi gas vì gừng có khả năng làm thay đổi những chất hóa học có trong các loại đậu và giúp chúng trở nên dễ tiêu hơn.
5. Lá ca ri
Trong phong cách ẩm thực của người Ấn Độ và một số nước thuộc châu Á, lá ca ri là thành phần quan trọng giúp họ chế biến ra nhiều món ăn ngon miệng và có lợi cho sức khỏe. Lá ca ri được xem như là một loại thuốc bổ, giúp kích thích hoạt động của hệ tiêu hóa. Chúng còn được chứng minh là có khả năng cải thiện chất lượng của các enzyme tiêu hóa, giúp phá vỡ thức ăn một cách dễ dàng. Lá ca ri sau khi được giã nát và trộn cùng với kem sữa tươi sẽ tạo thành một hỗn hợp có thể chữa trị hiệu quả tình trạng đau bụng do rối loạn tiêu hóa gây ra. Ngoài ra, chúng còn giúp chữa nôn mửa với tác dụng khá nhanh. Bạn cũng có thể trộn lá ca ri đã nghiền nát với mật ong để điều trị bệnh tiêu chảy, trĩ và kiết lỵ.
6. Me
Lớp thịt của quả me có tác dụng chữa trị chứng đầy hơi, tình trạng nôn mửa do tiết nhiều mật và khó tiêu. Loại quả có vị chua này còn rất có ích trong việc điều trị táo bón, chán ăn.
7. Đinh hương
Nụ đinh hương thường được dùng để làm tăng khả năng hoạt động của hệ tiêu hóa và giúp các enzyme lưu thông tốt hơn. Bên cạnh đó, chúng còn có tác dụng chữa trị một số tình trạng như khó tiêu, tình trạng khó chịu do bụng tích tụ quá nhiều hơi gas. Để ngăn ngừa có hiệu quả các cơn buồn nôn, ói mửa, bạn nên dùng loại bột được xay từ các nụ đinh hương khô trộn với mật ong.
8. Hạt hồi
Hạt hồi cùng với những thực phẩm có lợi cho hệ tiêu hóa khác như tiêu, gừng, nghệ có thể được pha trộn để tạo thành một hỗn hợp có tác dụng giải phóng khí gas đang bị ứ đọng trong bao tử. Để điều trị chứng khó tiêu, hãy trộn hỗn hợp này cùng với một muỗng canh hạt hồi trong một ly nước đun sôi nhỏ, để qua đêm rồi pha thêm mật ong và dùng chúng vào ngày hôm sau.
9. Nghệ
Loại gia vị này có khả năng chữa trị hiệu quả các vấn đề của hệ tiêu hóa. Nghệ vẫn thường được dùng trong những trường hợp bao tử bị yếu - những người thường xuyên phải chịu đựng chứng khó tiêu - và giúp tiêu hóa các protein. Để giải quyết tình trạng rối loạn tiêu hóa, làm giảm bớt sự đầy hơi, hãy uống một muỗng bột nghệ pha với sữa hoặc mật ong sau khi đã dùng xong bữa trưa.
10. Tiêu
Ngoài khả năng kích thích hoạt động của các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa và làm tăng lượng dịch vị cũng như nước bọt, tiêu còn là một loại thực phẩm làm thèm ăn và là phương thuốc điều trị các rắc rối về tiêu hóa tại nhà rất xuất sắc. Tình trạng khó tiêu và nặng bụng có thể được điều trị bằng hỗn hợp ¼ muỗng canh tiêu bột hòa cùng với kem sữa tươi.
Bán căn hộ chung cư tại Hà Nội, chuyển nhượng, mua bán nhà đất, đầy đủ, ... là một trong những dự án nhà ở chung cư phân khúc cao cấp thương lưu trên địa ...PhumyGroup.com
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc nam thực vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc nam thực vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011
Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011
Thuốc từ cây mướp
Mướp được nhân dân ta sử dụng làm thuốc từ lâu đời. Mướp có nhiều loài khác nhau. Mướp ta, hay mướp thường (Luffa cylindrica (L.) Roem.), mướp hương (Luffa acutangula Roxb.). Theo Đông y, các bộ phận của cây mướp, như lá mướp (ty qua diệp), dây mướp (ty qua đằng), xơ mướp (ty qua lạc) đều là những vị thuốc có thể sử dụng để trị nhiều bệnh khác nhau.
Lá mướp có vị ngọt, chua, mát, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, chỉ khái, giải độc, chỉ huyết. Dùng trị ho cấp tính và mạn tính, nhiều đờm, đờm dính máu. Hằng ngày dùng 10 - 15g, sắc uống; hoặc lấy lá tươi, rửa sạch, thêm chút muối ăn, giã nát, vắt lấy nước uống, trị viêm họng, họng sưng đau. Còn có tác dụng trừ phù thũng, trị mụn nhọt sưng đỏ. Có thể lấy lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn nhọt hoặc lên vết thương để tiêu viêm, tiêu sưng.
Quả mướp có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc. Dùng quả non, khi quả ra được khoảng 20 ngày, hái về thái mỏng, sao vàng, sắc uống có tác dụng trừ đờm, trị ho, hen, khó thở.
Rễ mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú. Ngày 15-30g dưới dạng sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Uống nhiều ngày tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
Thân cây mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết thông lạc, thanh nhiệt giải độc. Sau khi thu hái, đem phơi khô, cắt thành từng đoạn 3-5cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn uống với nước sôi để nguội, ngày 2-3 lần, mỗi lần 8-12g, có tác dụng thông mũi, trị bệnh viêm mũi mạn tính, viêm cuốn mũi.
Gốc cây mướp, sau khi rửa sạch, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống có tác dụng tiêu viêm. Trị viêm xoang, viêm mũi, mũi ngứa, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh.
Xơ mướp có vị ngọt tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt, hóa đàm, lợi thủy, tiêu thũng. Có thể lấy những quả mướp chín, già, khô trên giàn; hoặc hái các quả mướp già, phơi khô hoặc sấy khô, bóc bỏ vỏ, bỏ hạt. Khi cần nhiều xơ mướp, có thể, sau khi thu hái các quả mướp già, bó lại thành bó, ngâm xuống nước vài ngày cho thịt mướp rữa ra, sau đó rửa sạch xơ, rồi đem phơi khô, sấy khô. Lấy xơ này, cắt thành từng đoạn 1 - 2cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn, uống ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g, để thông kinh, hoạt lạc, trừ phong thấp, lợi tiểu, giải độc. Dùng trong các trường hợp đau tức sườn ngực, đau cơ. Xơ mướp đem sao đen, sao tới khi toàn bộ phía ngoài có màu đen, bên trong vẫn còn màu vàng, tán thành bột mịn, uống với nước ấm, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 8g, có tác dụng cầm máu, giảm đau. Dùng trị trĩ ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết tử cung… Ngoài ra để thúc sởi chóng mọc, dùng xơ mướp 20g; kinh giới, bạch chỉ, kim ngân, mỗi thứ 12g; cỏ mần trầu 8g; cam thảo 4g. Sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần.
GS.TS Phạm Xuân Sinh
Theo KH&ĐS
Lá mướp có vị ngọt, chua, mát, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, trừ đờm, chỉ khái, giải độc, chỉ huyết. Dùng trị ho cấp tính và mạn tính, nhiều đờm, đờm dính máu. Hằng ngày dùng 10 - 15g, sắc uống; hoặc lấy lá tươi, rửa sạch, thêm chút muối ăn, giã nát, vắt lấy nước uống, trị viêm họng, họng sưng đau. Còn có tác dụng trừ phù thũng, trị mụn nhọt sưng đỏ. Có thể lấy lá bánh tẻ, rửa sạch, giã nát, đắp lên mụn nhọt hoặc lên vết thương để tiêu viêm, tiêu sưng.
Quả mướp có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc. Dùng quả non, khi quả ra được khoảng 20 ngày, hái về thái mỏng, sao vàng, sắc uống có tác dụng trừ đờm, trị ho, hen, khó thở.
Rễ mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, thanh trừ nội nhiệt, nhuận tràng, trị phế ung, viêm mũi, viêm xoang, ho, đau nửa đầu, viêm tuyến vú. Ngày 15-30g dưới dạng sao vàng, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Uống nhiều ngày tới khi các triệu chứng thuyên giảm.
Thân cây mướp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng hoạt huyết thông lạc, thanh nhiệt giải độc. Sau khi thu hái, đem phơi khô, cắt thành từng đoạn 3-5cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn uống với nước sôi để nguội, ngày 2-3 lần, mỗi lần 8-12g, có tác dụng thông mũi, trị bệnh viêm mũi mạn tính, viêm cuốn mũi.
Gốc cây mướp, sau khi rửa sạch, cạo bỏ lớp vỏ bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, sắc uống có tác dụng tiêu viêm. Trị viêm xoang, viêm mũi, mũi ngứa, chảy nước mũi, nước mũi có mùi hôi, tanh.
Xơ mướp có vị ngọt tính bình, có tác dụng thông kinh, hoạt lạc, thanh nhiệt, hóa đàm, lợi thủy, tiêu thũng. Có thể lấy những quả mướp chín, già, khô trên giàn; hoặc hái các quả mướp già, phơi khô hoặc sấy khô, bóc bỏ vỏ, bỏ hạt. Khi cần nhiều xơ mướp, có thể, sau khi thu hái các quả mướp già, bó lại thành bó, ngâm xuống nước vài ngày cho thịt mướp rữa ra, sau đó rửa sạch xơ, rồi đem phơi khô, sấy khô. Lấy xơ này, cắt thành từng đoạn 1 - 2cm, sao vàng, nghiền thành bột mịn, uống ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g, để thông kinh, hoạt lạc, trừ phong thấp, lợi tiểu, giải độc. Dùng trong các trường hợp đau tức sườn ngực, đau cơ. Xơ mướp đem sao đen, sao tới khi toàn bộ phía ngoài có màu đen, bên trong vẫn còn màu vàng, tán thành bột mịn, uống với nước ấm, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 8g, có tác dụng cầm máu, giảm đau. Dùng trị trĩ ra máu, đại tiện ra máu, xuất huyết tử cung… Ngoài ra để thúc sởi chóng mọc, dùng xơ mướp 20g; kinh giới, bạch chỉ, kim ngân, mỗi thứ 12g; cỏ mần trầu 8g; cam thảo 4g. Sắc uống, ngày 1 thang chia 2 lần.
GS.TS Phạm Xuân Sinh
Theo KH&ĐS
Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011
Vỏ chanh chữa bệnh (2 bài)
Bài 1. Vỏ chanh tuyệt hơn cả Viagra?
[Phunutoday, 21/9/2011] - Tôi 50 tuổi lúc đó tình dục đã yếu, tôi lấy vỏ chanh uống thử xem thấy thế nào. Uống ngày đầu tiên là đã có kết quả, từ ngày đó là cứ vậy tôi làm.

Tôi đọc được bài thuốc dân gian này từ một quyển sách pho to có tên là Sách thuốc Thiên ân, do mẹ tôi sưu tầm và tặng lại cho con cháu. Từ lúc có quyển sách, mẹ tôi dặn mọi người nhớ để dành vỏ chanh cho bà, để bà tự thử nghiệm.
Quyển cách ghi rõ địa chỉ của người viết: lương y Nguyễn Văn Quỳnh, số 69 Yên Đỗ, phường Tân Thành, quận Tân Phú, T.P Hồ Chí Minh. Tuy mẹ tôi còn đang trong quá trình sưu tầm vỏ chanh, chưa biết hiệu quả thật sự đến đâu, nhưng trộm nghĩ uống vỏ chanh, nếu không có tác dụng tuyệt vời như lời tuyên truyền, thì cũng vô hại nếu uống vào, nên tôi mạnh dạn cung cấp cho mọi người những thông tin quan trọng trong cuốn sách pho to này. Biết đâu đây thực sự là một bài thuốc tốt mà lâu nay chúng ta phí phạm bỏ qua.
Vì bài viết trong quyển sách không chỉ nói đến vỏ chanh mà còn đề cập tới nhiều bài thuốc dân gian khác, cách trình bày nhiều khi bị lẫn lộn, nên tôi tạm sắp xếp đề mục theo các công dụng khác nhau của vỏ chanh để mọi người tiện theo dõi.
Tác giả cuốn Sách thuốc thiên ân viết: “Năm 1989, là tôi 50 tuổi lúc đó tình dục đã yếu, tôi lấy vỏ chanh uống thử xem thấy thế nào. Uống ngày đầu tiên là đã có kết quả, từ ngày đó là cứ vậy tôi làm. Tôi có thằng cháu con ông anh họ bị liệt dương. Đi hết bác sĩ này đến thầy Tàu kia, mà cũng không hết. Tôi bảo nó là, cháu uống vỏ chanh vài tháng xem thế nào? Thế là nó uống cũng có kết quả.
Nó kể: trước khi uống vỏ chanh cháu có người yêu 04 năm rồi mà cháu không dám cưới. Lúc đó tôi nói: “Cháu mà cưới về, rồi nó cũng bỏ cháu vì liệt dương, không trả bài được là nó cũng bỏ cháu”. Rồi hai chú cháu cùng cười. Xin mọi người đừng nghĩ là tôi nói bậy”.
Ở đoạn này, tác giả không nói kỹ phải dùng bao nhiêu vỏ chanh, uống tươi hay khô để giúp người cháu liệt dương có can đảm lấy vợ mà chuyển ngay sang công dụng của vỏ chanh đối với người bị sốt rét. Xin trích dẫn luôn ra đây để mọi người tham khảo: “Không có một loại thuốc nào mà chặn đứng cơn sốt rét trong
vòng 05 phút. Người bị sốt rét, đắp 02 đến 03 cái mền vẫn thấy lạnh, thế mà uống 01 ca vỏ chanh đặc còn ấm vừa uống được, chỉ một ca Thái Lan có quai trong vòng 05 phút là hết sốt”.
Hi vọng những trích dẫn trên đây sẽ có ích cho một ai đó đang cần tìm thuốc bổ dương ích khí cho các đấng tu mi nam tử. Ở các trích đoạn khác, tác giả cuốn Sách thuốc Thiên ân có nói rõ hơn về liều dùng, cách dùng vỏ chanh. Trong lúc chờ bài tiếp theo, quý vị muốn có trải nghiệm cho riêng mình nên đi sưu tầm vỏ chanh từ các quán bún, phở, về phơi khô đi là vừa.
Trương Lan
Bài 2. Vỏ chanh chữa lành bao tử
[Phunutoday, 23/9/2011] - Viêm cuống bao tử mỗi ngày uống từ 40 miếng vỏ chanh tươi đến 50 miếng, khô thì 80 miếng đến 100 miếng mỗi ngày,trong vòng 4 ngày hết bệnh”
Ngày 20/9/2011, mẹ tôi bắt đầu sắc vỏ chanh để uống. Bà bị đầy hơi, ợ chua và chướng vùng thượng vị.Nhận xét ban đầu là vỏ chanh tươi hơi đắng, có mùi thơm như lá chanh.
Tác giả cuốn “Sách thuốc Thiên ân” viết:“Năm 1979, tôi bị đau bao tử rất nặng, ăn gì cũng đau, uống gì cũng đau, đi xe đạp là đau nhiều, tiền không có, thuốc thì hiếm,phải đến đường Nguyễn Thông – TP Hồ Chí Minh mới có thuốc,nhưng tiền không có phải chịu bó tay. Thế là tôi tự thử nghiệm cho chính tôi xem kết quả thế nào?
Tôi ra chợ lượm vỏ chanh người ta ăn hang bỏ vỏ, lượm về rửa sạch, lột màng chua rồi rửa lại cho thật sạch. Nấu sôi 10 phút đậy vung, tắt bếp để cho nguội uống. Kết quả đúng như tôi nghĩ là bớt đau ngay ngày đầu rồi tôitiếp tục uống mỗi ngày một đỡ đau trông thấy. Uống khoảng một tuần là hết đau. Nhưng phải kiêng đồ chua như cà chua, thơm (dứa), chuối, các thứ chua…Từ đó tôi thử nghiệm qua tôi và người khác đều có kết quả”.
Lắng nghe phản ứng của cơ thể
Cũng như các loại thuốc khác, khi dùng vỏ chanh chữa bệnh, mọi người phải lắng nghe phản ứng của cơ thể mình. Theo tác giả cuốn sách, “tác dụng phụ của vỏ chanh là tiêu hao cơ thể, tiêu mỡ… Uống vỏ chanh trong vòng hai tiếng đồng hồ mà không đi tiểu được, hay nhức đầu thì ngưng ngay, phải đi tiểu được nhiều trong vòng hai tiếng mới tốt. Lúc đó uống nước chanh nếu không đau bao tử, nếu đau bao tử thì uống nhiều nước sôi để nguội”.
“… Xin mọi người phải lưu ý xem mình uống có chịu đựng được hay không, nếu không chịu đựng được thì phải uống ít đi theo sức chịu đựng của mình. Nếu uống được như tôi ấn định thì mau khỏi, còn không uống được thì phải uống ít đi tùy theo sức mỗi người”.
Vỏ chanh có thể dùng được dưới hai dạng: vỏ tươi và vỏ phơi khô. Dùng vỏ khô thì phải uống nhiều gấp hai lần vỏ tươi.Lưu ý chung là phải bóc sạch màng chua trước khi dùng.
Liều dùng phổ biến
Theo tác giả cuốn sách, vì thể trạng, bệnh tật của mỗi người khác nhau nên cần có sự gia giảm liều lượng khác nhau khi dùng vỏ chanh. Sau đây là một vài gợi ý, không chỉ riêng cho bệnh đau bao tử mà còn cho nhiều bệnh khác:
“Phổi có nước, thận có nước thì uống vỏ chanh là mau khỏi. Mỗi ngày phải uống 80 đến 100 miếng vỏ chanh tươi. Vỏ khô mỗi ngày 120 đến 160 miếng. Nếu sôi vỏ chanh 10 phút, tắt bếp, đậy vung, để nguội rồi uống. Nấu lần thứ 2 cũng làm như vậy.Uống cho đến khi hết bệnh.
Mỡ bọc tim, bọc gan thì uống ít hơn, mỗi ngày uống 30 miếng vỏ tươi, còn khô thì uống 50 miếng mỗi ngày. Thời gian kéo dài cho đến hết bệnh.
Viêm cuống bao tử mỗi ngày uống từ 40 miếng vỏ chanh tươi đến 50 miếng, khô thì 80 miếng đến 100 miếng mỗi ngày,trong vòng 4 ngày hết bệnh”.Lưu ý riêng cho bệnh nhân đau bao tử: ăn kiêng quan trọng ngang với uống vỏ chanh.
Song Nhi
Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011
Cây lá Gan Sapa
Công dụng: Mát gan, lợi mật, giải độc, an thần, giúp tiêu hóa tốt. Chữa Viêm gan, sơ gan, Men gan cao, gan nhiễm mỡ
Cách dùng: sắc nước uống hàng ngày.
Giá: 120,000vnđ/1gói (1kg)

Theo thaoduocquy.vn
Cách dùng: sắc nước uống hàng ngày.
Giá: 120,000vnđ/1gói (1kg)
Theo thaoduocquy.vn
Dùng hoa để giảm béo
Y học cổ truyền có một số bài thuốc độc đáo giúp giảm tình trạng thừa cân béo phì bằng các loài hoa quanh nhà, quanh vườn, chẳng hạn như hoa cúc, hoa hồng, hoa nhài, hoa chanh...
Một số bài thuốc cụ thể:
1. Hoa hồng, hoa nhài, hoa chanh (có thể dùng hoa cam, hoa quýt, hoa quất thay thế), lá sen, xuyên khung mỗi vị 10 g, sắc uống mỗi ngày một thang. Cũng có thể hãm uống thay trà. Rất thích hợp cho những người béo phì có rối loạn lipid máu.
2. Cúc hoa 6 g, sơn tra 15 g, thảo quyết minh (sao thơm) 15 g. Các vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những phụ nữ béo phì kèm theo các triệu chứng: ngực sườn đầy tức, bụng trướng, kinh nguyệt không đều, có thể bế kinh, ngủ kém hay mê mộng, miệng đắng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhờn...
3. Kim ngân hoa, cúc hoa, sơn trà mỗi vị 10 g. Chắc vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu thuộc thể vị nhiệt thấp trở, biểu hiện bằng các triệu chứng hoa mắt chóng mặt, nặng đầu, tay chân buồn mỏi, chóng đói, miệng khát, thích uống mát, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính.
4. Hoa tam thất, sơn tra, hoa hồng mỗi vị 10 g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người thừa cân và béo phì kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hay hoa mắt, chóng mặt, ù tai.
5. Hoa lơ 350 g, tôm nõn (đã chín) 25 g, gừng tươi thái chỉ, muối, gia vị, mì chính, nấm gạo và dầu thực vật vừa đủ. Hoa lơ rửa sạch thái miếng, chần qua nước sôi, để ráo nước rồi đem trộn với tôm nõn, muối, mì chính, giấm chua thành dạng dưa góp, sau chừng nửa giờ là ăn được. Khi ăn cho thêm một chút dầu thực vật lên trên. Công dụng: Tư âm dưỡng huyết, hạ mỡ máu và giảm béo phì.
6. Hoa tam thất, hòe hoa, cúc hoa, mỗi vị 10 g. Ba loại hoa đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10-20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người bị thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mặt đỏ, dễ cáu giận, thích uống nước mát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ.
7. Giã cúc hoa 10g, hà diệp (lá sen) 20g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm tăng huyết áp.
8. Hoa sơn trà, lá sơn trà mỗi vị 6 g. Hai thứ đem hãm với nưới sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong người. Công dụng: hạ huyết áp, giảm mỡ máu, phòng chống thừa cân và béo phì.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Một số bài thuốc cụ thể:
1. Hoa hồng, hoa nhài, hoa chanh (có thể dùng hoa cam, hoa quýt, hoa quất thay thế), lá sen, xuyên khung mỗi vị 10 g, sắc uống mỗi ngày một thang. Cũng có thể hãm uống thay trà. Rất thích hợp cho những người béo phì có rối loạn lipid máu.
2. Cúc hoa 6 g, sơn tra 15 g, thảo quyết minh (sao thơm) 15 g. Các vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những phụ nữ béo phì kèm theo các triệu chứng: ngực sườn đầy tức, bụng trướng, kinh nguyệt không đều, có thể bế kinh, ngủ kém hay mê mộng, miệng đắng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhờn...
3. Kim ngân hoa, cúc hoa, sơn trà mỗi vị 10 g. Chắc vị thuốc đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này đặc biệt tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu thuộc thể vị nhiệt thấp trở, biểu hiện bằng các triệu chứng hoa mắt chóng mặt, nặng đầu, tay chân buồn mỏi, chóng đói, miệng khát, thích uống mát, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dính.
4. Hoa tam thất, sơn tra, hoa hồng mỗi vị 10 g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người thừa cân và béo phì kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, hay hoa mắt, chóng mặt, ù tai.
5. Hoa lơ 350 g, tôm nõn (đã chín) 25 g, gừng tươi thái chỉ, muối, gia vị, mì chính, nấm gạo và dầu thực vật vừa đủ. Hoa lơ rửa sạch thái miếng, chần qua nước sôi, để ráo nước rồi đem trộn với tôm nõn, muối, mì chính, giấm chua thành dạng dưa góp, sau chừng nửa giờ là ăn được. Khi ăn cho thêm một chút dầu thực vật lên trên. Công dụng: Tư âm dưỡng huyết, hạ mỡ máu và giảm béo phì.
6. Hoa tam thất, hòe hoa, cúc hoa, mỗi vị 10 g. Ba loại hoa đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10-20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người bị thừa cân và béo phì có kèm theo tăng huyết áp và rối loạn lipid máu, hay đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mặt đỏ, dễ cáu giận, thích uống nước mát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ.
7. Giã cúc hoa 10g, hà diệp (lá sen) 20g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 10 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Loại trà này dùng rất tốt cho những người thừa cân và béo phì có kèm tăng huyết áp.
8. Hoa sơn trà, lá sơn trà mỗi vị 6 g. Hai thứ đem hãm với nưới sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong người. Công dụng: hạ huyết áp, giảm mỡ máu, phòng chống thừa cân và béo phì.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Giảo cổ lam (3 bài)
Bài 1. Giảo cổ lam
Giảo cổ lam hay còn gọi là dây lõa hùng, trường sinh thảo hoặc thất diệp đảm, ngũ diệp sâm với danh pháp khoa học là Gynostemma pentaphyllum thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).
Nó là một loài cây thảo có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá. Cây đực và cây cái riêng biệt. Lá kép hình chân vịt. Cụm hoa hình chuỳ mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, các cánh hoa rời nhau xoè hình sao, bao phấn dính thành đĩa, bầu có 3 vòi nhuỵ. Quả khô hình cầu, đường kính 5 - 9 mm, khi chín màu đen. Cây mọc ở độ cao 200 - 2.000 m, trong các rừng thưa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên và một số nước châu Á khác.
Thành phần hóa học chính của thất diệp đảm là flavonoit và saponin. Số sapoin của thất diệp đảm nhiều gấp 3 - 4 lần so với nhân sâm. Trong đó, một số có cấu trúc hoá học giống như cấu trúc có trong nhân sâm (ginsenozit). Ngoài ra thất diệp đảm còn chứa các vitamin và các chất khoáng như selen, kẽm, sắt, mangan, phốtpho...
Thất diệp đảm là cây thuốc đã được dùng theo y học cổ truyền Trung Quốc. Người Trung Quốc từ lâu xem cây này như thuốc trường sinh, bởi lẽ người dân ở tỉnh Quý Châu uống trà thất diệp đảm thường xuyên thì sống rất thọ[cần dẫn nguồn]. Cây này còn được gọi là nhân sâm phương Nam hay nhân sâm 5 lá, mặc dù thực tế loài này không có họ hàng gì với nhân sâm đích thực. Cây này cũng được dùng ở Nhật Bản với tên amachazuru, ở Hàn Quốc với tên gọi dungkulcha và nhiều nước khác.
Ở Việt Nam, vào năm 1997 giáo sư Phạm Thanh Kỳ (Đại học Dược Hà nội) đã phát hiện cây thất diệp đảm trên núi Phan Xi Păng và được giáo sư Vũ Văn Chuyên (Đại học Dược Hà nội) xác định đúng là loại Gynostemma pentaphyllum. Ngoài ra, thất diệp đảm còn được tìm thấy ở một số địa phương thuộc vùng đồi núi phía Bắc.
Theo Wikipedia
Bài 2. Phép mầu Giảo cổ lam
Kể từ khi xuất hiện trên thị trường Việt Nam, nhiều câu hỏi bán tín bán nghi đã được đặt ra: Giảo cổ lam có chữa được bách bệnh như quảng cáo trên hộp trà? Công dụng của nó sẽ được phát huy bao nhiêu lâu sau khi uống?...
Để trả lời các câu hỏi trên, Trí Tri đã có cuộc trò chuyện với Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thanh Kỳ, nguyên trưởng bộ môn Dược liệu trường ĐH Dược Hà Nội, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về dược liệu Giảo cổ lam (GCL).
Giảo cổ lam Việt Nam - Cùng họ với Giảo cổ lam Trung Quốc, Nhật Bản
Thưa GS, nguồn gốc nghiên cứu GCL có phải xuất phát từ Trung Quốc và Nhật Bản?
Đúng như vậy. GCL là một dược liệu rất quý hiếm và mới chỉ phát hiện thấy tại Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan. Cây này được nghiên cứu đầu tiên tại Nhật Bản với tên gọi Phúc âm thảo còn ở Trung Quốc gọi tên là Jaogulan.
Trong một lần đi công tác ở Trung Quốc, chúng tôi tình cờ được biết đến sản phẩm của thảo dược quý này và ngay sau khi về VN, nhóm nghiên cứu đã quyết tâm đi tìm.
Vậy nơi đầu tiên GS phát hiện ra cây GCL?
Nơi đầu tiên mà chúng tôi tìm thấy cây GCL là trên rừng nguyên thủy núi Phanxipăng thuộc tỉnh Lào Cai, ở độ cao 2.000m.
Sau khi phát hiện ra GCL thì quá trình nghiên cứu dược liệu này diễn ra như thế nào, thưa GS?
Chúng tôi phải theo dõi để chờ cây ra hoa và đơm trái chứ không phải là xác định được ngay.
Chỉ khi cây có hoa, có quả thì mới xác định được tên khoa học của nó, lúc này thì mới có cơ sở để đối chiếu với các tài liệu của Trung Quốc xem nó có phù hợp hay không. Thời gian để làm được điều này mất cả năm trời.
Sau khi thực hiện được những bước trên thì mới bắt tay vào nghiên cứu sâu.
Việc đầu tiên trong quá trình nghiên cứu là xem cây GCL có thể sống được ở những vùng sinh thái nào để đi tìm tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy cây GCL thường xuất hiện ở những vùng có khí hậu mát.
Qua quá trình tìm kiếm, chúng tôi tiếp tục phát hiện ra ở Hoà Bình, Cao Bằng cũng tồn tại loại cây này.
Nghiên cứu tiếp theo là về thành phần hóa học của dược liệu. Việc nghiên cứu này nhằm mục đích đối chiếu với các thành phần hóa học của các nước công bố coi nó có tương ứng hay không.
Cuối cùng mới nghiên cứu độc tính cấp xem nó có độc hay không, nghiên cứu độc tính bán trường diễn coi có ảnh hưởng đến tính năng của máu, chức năng của gan hay không…
Thưa GS, vậy thành phần hóa học chủ yếu của cây GCL là gì?
GCL có hai thành phần chủ yếu là Saponin và Flavonoid. Saponin ở đây có cấu trúc triterpen kiểu dammaran, trong đó có nhiều loại giống với Nhân sâm và Tam thất. Flavonoid có tác dụng sinh học cao và chống lão hóa mạnh. Ngoài ra còn chứa nhiều acid amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se.
Vậy cây GCL có thành phần gây độc?
Qua kết quả nghiên cứu thì xác định cây không có độc tính.
Tốt hơn Trung Quốc!
Những tác dụng đã được khẳng định của GCL là gì, thưa GS?
Kết quả nhiên cứu cho thấy, hiện nay thành phần GCL ở VN tốt hơn ở Trung Quốc vì chúng ta vẫn đang khai thác ở dạng tự nhiên.
Qua thực nghiệm thì có một số tác dụng của GCL thể hiện rất rõ đó là:
- Làm hạ mỡ máu, nhất là giảm cholesterol toàn phần, ngăn ngừa xơ vữa mạch máu, chống huyết khối và bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não. Chống lão hóa, giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc.
- Tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của khối u.
- Tác dụng chống ôxy hóa, stress…
- Rất tốt cho tế bào gan, tăng cường chức năng giải độc gan; điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ nên làm giảm béo tốt, nhất là béo bụng, béo đùi.
Hiện nay GCL được chế biến như thế nào, thưa GS?
Sau khi nghiên cứu thấy công dụng tốt của GCL thì mới tính đến dạng bào chế. Dạng đầu tiên và dễ dàng nhất là dạng chè. Sau đó mới tính đến chuyện chế biến thành thuốc.
Hiện nay thì mới có dạng chè và dạng viên do cơ sở Tuệ Linh sản xuất. Còn dạng thuốc thì chúng tôi còn phải tiếp tục nghiên cứu sau đó sẽ xin phép Cục quản lý dược để đưa vào sản xuất. Dự kiến trong năm 2008 sẽ sản xuất GCL dạng thuốc.
Vậy GCL mà cơ sở Tuệ Linh sản xuất dưới dạng chè và dạng viên có có được gọi là “thuốc” không thưa GS?
Chúng ta cần phải quan niệm như thế này, chè GCL không phải là thuốc. Dạng viên hiện nay cũng có tác dụng như chè mà thôi, đây chỉ là cách chế biến để người dùng dễ sử dụng vì không phải ai cũng thích uống chè.
Công dụng của dạng này là khi uống vào sẽ có tác dụng hỗ trợ giúp cho ổn định trong quá trình điều trị bệnh bằng thuốc tây y, đồng thời tăng cường hệ miễn dịch nâng cao sức khỏe.
Ví dụ như: Một người bị cao huyết áp, khi dùng thuốc tây sẽ giảm xuống thì chè GCL có tác dụng giúp cho ổn định còn thuốc huyết áp kia vẫn phải uống.
Giảo cổ lam - loài cây đỏng đảnh
Hiện nay rất nhiều người sử dụng chè GCL hàng ngày. Vậy nếu dùng liên tục thì có ảnh hưởng gì không thưa GS?
Như tôi nói ở trên là cây GCL không có thành phần độc tính nên dùng bao nhiêu cũng không sao.
Nó có thể dùng thường xuyên liên tục trong ngày. Nhưng khi sử dụng đến dạng viên hay dạng thuốc thì cần phải sử dụng theo chỉ định.
Ở đây người dùng cũng cần lưu ý một số điểm khi dùng dạng chè hay dạng viên của Giảo Cổ Lam:
- Nên uống GCL vào buổi sáng hoặc đầu giờ chiều, không uống lúc tối hoặc trước khi đi ngủ vì sẽ làm tỉnh táo, khó ngủ giống như uống nhân sâm.
- Người hay bị đường huyết, huyết áp quá thấp phải uống lúc ăn no hoặc thêm một vài lát gừng tươi.
- GCL làm tăng chuyển hóa cơ thể, do vậy khi uống xong có cảm giác nóng người, có khả năng sẽ tăng huyết áp nhẹ, khát nước, khô miệng vì vậy cần phải uống thêm nước lọc để cơ thể điều chỉnh về trạng thái ổn định…
GCL rõ ràng là một loại “thần dược” nhưng lại không quá hiếm vì như GS có kể là nó xuất hiện ở nhiều vùng núi phía Bắc như Lào Cai, Hòa Bình, Cao Bằng…Vậy, chúng ta đã có một nguồn nguyên liệu rất dồi dào?
Thực ra, tuy xuất hiện ở nhiều tỉnh vùng núi phía Bắc nhưng GCL lại khó ươm trồng. Hiện tại thì chỉ có Hòa Bình mới đáp ứng được điều kiện phát triển của cây và cho kết quả thành phần hóa học tương đối ổn định. Chúng tôi đã mang cây GCL đem trồng thử nghiệm ở một số tỉnh có khí hậu mát ở khu vực miền Bắc để duy trì nguồn thảo dược này nhưng thấy cây phát triển chậm, bên cạnh đó thành phần hóa học lại không ổn định.
Xin hỏi GS một câu hơi riêng tư một chút, điều GS trăn trở nhất trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình là gì?
(Cười). Đối với tôi thì có nhiều điều để trăn trở nhưng có lẽ điều tôi quan tâm nhất hiện nay là cần phải sớm phát hiện và duy trì sự tồn tại của các nguồn dược liệu quý mà thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam.
Tôi có đi công tác một số nơi ở vùng biên giới thường và hay quan tâm đến những cây mà người dân địa phương bán cho Trung Quốc. Trung Quốc đã thu mua thì chắc chắn họ đang làm một cái gì đó. Do vậy tôi thường hỏi và xin mẫu đem về nghiên cứu để từ đó chế biến phục vụ cho nhân dân mình. Nếu không phát hiện sớm thì chắc chắn người dân sẽ khai thác, bán hết và chúng ta đã vô tình đánh mất nguồn dược liệu quý.
Một điều tôi cũng băn khoăn, là hiện nay người dân chưa có ý thức bảo vệ các loại cây thuốc. Họ chỉ biết tìm kiếm rồi đem bán để lấy tiền chứ không nghĩ đến chuyện duy trì sự tồn tại của nguồn thảo dược.
Xin cảm ơn GS về cuộc trò chuyện!
Trên thực tế sử dụng GCL ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc sau khoảng vài tháng, người dùng sẽ thấy được những công dụng sau:
- 3 giúp: giúp ngủ ngon, giúp mạnh khỏe, giúp tiêu hóa.
- 3 chống: chống viêm nhiễm (nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể), chống ung thư, chống lão hóa.
- 3 giảm: giảm mệt, giảm béo, giảm căng thẳng.
- 6 tốt: ăn cơm ngon, nhuận tràng, ngủ được, tăng khả năng làm việc, giúp cơ thể trẻ lâu, mau lại sức.
Trong khi đó, GCL ở Việt Nam được các nhà khoa học nhận định là tốt hơn GCL của Trung Quốc và Nhật Bản.
Ngay cả khi nó chưa được chế biến thành chè hay thuốc thì theo kinh nghiệm dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam ở nơi có dược liệu này: Cây GCL có khả năng thanh nhiệt mạnh. Các trường hợp sốt cao, cảm nắng, người nóng bức, người bị ngộ độc rượu dùng rất tốt.
Hiện, có nhiều cây rất giống GCL nhưng thuộc họ Vitaceae nên không có tác dụng, thậm chí gây tiêu chảy khi sử dụng.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, chỉ có duy nhất cơ sở Tuệ Linh là được phép sản xuất và cung cấp loại chè này ra thị trường và nguồn nhiên liệu thu mua tươi GCL đều được GS Phạm Thanh Kỳ trực tiếp kiểm định trước khi đưa vào sản xuất
Theo Trí Tri
Bài 3. Giảo cổ lam - Một dược liệu quý hiếm ở Việt Nam
Từ xa xưa Giảo cổ lam đã được sử dụng cho vua chúa để tăng sức khoẻ , kéo dài tuổi thọ va làm đẹp.
Giảo cổ lam(Jiaogulan), là một loại dược liệu có tên khoa học là Gynostemma pentaphyllum(Thunb). Makino Cucurbitaceae. Còn có tên là Cam Trà vạn, Thất diệp đởm, cây trường sinh, cây cỏ Thần kỳ, Sâm phương nam, Ngũ diệp sâm. Người Nhật gọi là Phúc âm thảo, hay Amachazuzu. Đây là một dược liệu đầu vị quý được ghi trong sách cổ “Nông chính toàn thư hạch chú” quyển hạ năm 1639. Từ xa xưa được sử dụng cho vua chúa để tăng sức khoẻ , kéo dài tuổi thọ va làm đẹp.
Giảo cổ lam bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1976 ở Nhật Bản ,việc phát hiện ra cây là do tình cờ khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi mà nguyên nhân là do người dân nơi đó thường xuyên uống cây này.
Giảo cổ lam bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1976 ở Nhật Bản ,việc phát hiện ra cây là do tình cờ khi nghiên cứu một bộ lạc sống trên núi cao có tuổi thọ bình quân 98 tuổi mà nguyên nhân là do người dân nơi đó thường xuyên uống cây này. Các nghiên cứu về Giảo cổ Lam hiện nay được thực hiện nhiều ở Trung Quốc,Mỹ, Đức, Italia. Có thể liệt kê một số nghiên cứu điển hình như:
- GS. Tan H., Liu Z.L.,Liu MJ. Chứng minh GCL có tác dụng kìm hãm sự tích tụ tiểu cầu, làm tan cục máu đông, chống huyết khối, tăng cường lưu thông máu lên não.
- Lin,J.M.,và cộng sự chứng minh GCL có tác dụng chống viêm gan, chứng cao huyết áp và chống ung thư. Có tác dụng chống viêm mạnh hơn Indomethacin
- Wang C. Và cộng sự chứng minh GCL kìm hãm sự phát triển của khối u mạnh.
Năm 1997 GS. TS. NGND Phạm Thanh Kỳ (nguyên Hiệu trưởng trường đại học Dược Hà Nội, chủ nhiệm bộ môn dược liệu) trong một lần đi công tác tại Lào Cai đã phát hiện thấy cây Giảo Cổ Lam trên núi PhanXipang. Sau khi được GS. NGND Vũ Văn Chuyên xác định tên khoa học chính xác là Gynostemma Pentaphyllum, GS Kỳ đã tra cứu tài liệu và biết rằng đây là một loại dược liệu quí đã đăng ký đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và được cấp ngân sách 120 triệu đồng (đề tài có mã số: KC.10.07.03.03).
Kết quả nghiên cứu cho thấy Giảo Cổ Lam có chứa hơn 100 loại Saponin cấu trúc triterpen kiểu damaran, trong đó có nhiều loại có cấu trúc rất giống với Saponin có trong Nhân sâm và Tam thất (vì vậy có tên Ngũ diệp sâm, Sâm nam). Giảo cổ lam còn chứa nhiều Flavonoid, chất có tác dụng sinh học cao và có tác dụng chống lão hóa mạnh. Ngoài ra còn có các Axit amin tan trong nước, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng như Zn, Fe, Se. Đã thử độc tính cấp, trường diễn, bán trường diễn và xác định cây không có độc.
Các thử nghiệm Giảo Cổ Lam trên chuột và thỏ cho kết quả như sau:
+ Tác dụng giảm mỡ máu (Triglycerid và Cholesterorl): GCL ức chế tăng Cholesterorl 71% theo phương pháp ngoại sinh và 82,08% theo phương pháp nội sinh.
+ Tác dụng tăng lực (nghiệm pháp chuột bơi): GCL làm tăng lực 214,2%.
+ Tác dụng bảo vệ tế bào gan: đã chứng minh GCL bảo vệ tế bào gan mạnh trước sự tấn công của các chất gây độc (CCL4) và làm tăng tiết mật.
+ Tác dụng tăng đáp ứng miễn dịch: GCL làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào khi chiếu xạ hoặc gây độc tế bào bằng hóa chất Cyclophosphamid.
+ Tác dụng hạ đường máu: GCL có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt trắng. Trên chuột đái tháo đường di truyền, liều uống 500 mg/kg làm hạ đường huyết 22%, liều 1000mg/kg làm hạ tối đa tới 36%. Trong nghiệm pháp dung nạp glucose ở chuột nhắt trắng, liều uống 1000mg/kg đã ức chế sự tăng đường huyết tới 55% (sau 30 phút) và 63% (sau 60 phút) so với nhóm chứng. GCL gây hạ đường huyết yếu trên chuột bình thường nhưng lại có tác dụng khá mạnh trên chuột có đường huyết cao. Như vậy, ngoài cơ chế làm tăng tiết insulin GCL có thể cũng làm tăng nhạy cảm của mô đích với insulin.
+ Phòng ung thư: tỷ lệ ức chế khối u từ 20-80%, phòng ngừa u hóa tế bào bình thường.
+ Chống suy thoái tế bào: cho dịch chiết GCL vào môi trường vào nuôi cấy tế bào da người, số lần tái sinh tăng từ 20 lên 27 lần, kéo dài tuổi thọ tế bào 22,7%.
Đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện TƯ cho thấy:
- Giảo Cổ Lam làm hạ mỡ máu, nhất là đối với cholesterol toàn phần điều trị cho kết quả tốt, ngăn ngừa sơ vữa mạch máu, chống huyết khối vờ bình ổn huyết áp, phòng ngừa các biến chứng tim mạch, não.
- Giảo Cổ Lam làm giảm căng thẳng mệt mỏi, giúp tăng lực mạnh, tăng khả năng làm việc, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Cải thiện các triệu chứng cơ năng cho bệnh nhân như giúp ăn ngủ tốt, hạn chế số lần tiểu đêm, nhuận gan, lợi mật, giúp tiêu hóa tốt, hết hoa mắt, chóng mặt, đau đầu do thiếu máu não.
Chính vì tác dụng kỳ diệu cho sức khỏe như vậy nên Giảo cổ lam còn được gọi là cây trường thọ, cây cỏ thần kỳ và được bán ở Trung Quốc và Nhật Bản với giá rất đắt (khoảng một đến bốn triệu đồng 1kg). Việc tìm thấy Giảo Cổ Lam ở Phanxipang Việt Nam minh chứng cho tiềm năng phong phú và đa dạng của dược liệu nước nhà và mở ra một triển vọng to lớn về xuất khẩu dược liệu ( cây Giảo Cổ Lam mỗi năm đem về ngoại tệ lớn cho Trung Quốc và rất được thị trường Mỹ và Châu Âu ưa chuộng).
Giảo cổ lam hiện nay đã có mặt trên thị trường Việt Nam dưới dạng trà túi lọc và dạng viên do tập đoàn Tuệ Linh sản xuất dưới sự cho phép và giám sát của GS.TS Phạm Thanh Kỳ, chủ nhiệm để tài cấp nhà nước về cây GCL. Hy vọng dược kiệu này sẽ đem lại nhiều sức khỏe cho mọi người.
Việt Báo (Theo_DanTri)
Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011
Cây lá bỏng
Cây lá bỏng hay cây thuốc bỏng, phương ngữ Nam Bộ (Việt Nam) gọi là cây sống đời (danh pháp khoa học: Kalanchoe pinnata, syn. Bryophyllum calycinum, Bryophyllum pinnatum) là loài cây bản địa của Madagascar. Cây lá bỏng có khả năng sinh sản sinh dưỡng bằng lá rất tốt, đây cũng là đặc điểm chung của nhóm Bryophyllum thuộc chi Kalanchoe.
Cây thuốc bỏng được trồng và mọc tự nhiên tại nhiều vùng thuộc châu Á, Thái Bình Dương và Caribe.
Theo Đông y, cây lá bỏng có vị nhạt, hơi chua, tính mát, không độc, có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, tiêu độc, giúp vết thương chóng lên da non...

Giới thiệu một số bài thuốc dùng lá bỏng
* Trị chứng đi lỵ: Dùng 40g lá của cây bỏng, 16g cam thảo đất, 20g cỏ seo gà, 20g lá mơ lông. Rửa sạch sắc uống ngày 1 thang.
* Bệnh kiết lỵ (viêm đại tràng): Ngày ăn 20 lá (buổi sáng 8 lá, chiều 8 lá, tối 4 lá). Từ 5-10 tuổi ăn bằng 1/2 người lớn. Ăn 5 ngày là khỏi.
* Trị chứng trĩ: Dùng 6g lá bỏng, 6g rau sam. Rửa sạch nhai sống hoặc sắc uống. Nếu bị lòi dom và lở hậu môn thì nấu nước bồ kết ngâm rửa hậu môn và giã lá sống đời đắp vào búi trĩ.
* Bệnh trĩ nội: Mỗi ngày dùng 10 lá (sáng ăn 4 lá, chiều ăn 4 lá), tối 2 lá, nuốt bớt nước, bã bỏ vào gạc vải đắp vào hậu môn (đóng khố như phụ nữ thấy kinh). Nhớ trước khi đắp thuốc phải làm vệ sinh hậu môn bằng nước pha muối. Cứ làm theo cách trên, tùy bệnh nặng nhẹ, dùng từ 20-45 ngày đều khỏi.
* Trị chứng đại tiện ra máu: Lấy 30g lá bỏng, 10g cỏ nhọ nồi, 10g ngải cứu (sao cháy), 10g lá trắc bá (sao cháy) sắc lấy nước uống ngày 1 thang.
* Chữa mụn nhọt khi chưa có mủ: Lấy 30g lá bỏng, 15g lá đại, 20g lá táo. Rửa sạch, giã nát đắp vào mụn ngày 1 - 2 lần.
* Trị chứng viêm họng: Lấy 10 lá sống đời rửa sạch, chia nhai sáng 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá. Nhai kỹ, ngậm một lúc rồi nuốt cả bã, dùng khoảng 3 - 5 ngày sẽ có kết quả.
* Tất cả các chứng đau họng: Sáng ăn 8 lá, chiều 8 lá sẽ khỏi ngay.
* Viêm họng: Nhai ngậm sáng 4 lần, chiều 4 lần, tối 2 lần (mỗi lần 1 lá, đều nhai ngậm và nuốt cả bã) dùng trong 3 ngày là khỏi.
* Trị chứng viêm xoang mũi: Lấy 2 lá sống đời rửa sạch, giã nát, lấy bông thấm nước thuốc nút vào lỗ mũi.
* Viêm xoang mũi: (Bệnh nhân trước khi nhai lá bỏng phải đánh răng, nạo lưỡi, súc miệng 2, 3 lần cho sạch miệng mới nhai). Mỗi lần nhai 2 lá, lấy nước nhai lá bỏng thấm vào bông, nút vào hố mũi bên viêm ngày 4,5 lần sẽ khỏi (Nếu viêm cả 2 bên thì sáng nút một bên chiều nút một bên).
* Chữa viêm tai giữa cấp tính: lá thuốc bỏng giã nát, vắt lấy nước nhỏ vào tai.
* Trị chứng viêm loét dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, đi ngoài ra máu: Lấy 50g lá bỏng rửa sạch, giã kỹ lấy nước uống, hoặc sắc uống. Hoặc ăn sống lá sống đời mỗi ngày 40g cũng cho kết quả tốt.
* Chữa viêm loét dạ dày: lá thuốc bỏng ăn sống mỗi ngày 40g.
* Giải rượu: Khi bị say rượu dùng 10 lá bỏng rửa sạch, nhai sống rất hiệu nghiệm.
* Trị chứng phong ngứa không rõ nguyên nhân: Lấy lá bỏng, lá bồ hòn, lá ké, lá răm nấu nước xông và tắm. Hoặc các vị trên thêm lá ké đầu ngựa sắc uống
* Chữa phong khí bỗng dưng phát ngứa: lá thuốc bỏng, nghể răm, lá ké và bồ hòn nấu nước xông và tắm. Trong dùng lá ké đầu ngựa sắc uống.
* Chữa nôn ra máu (do bị đánh, bị thương): 7 lá thuốc bỏng giã nát, thêm rượu và đường vào uống trong ngày.
* Ðau mắt đỏ và đau mắt hột: Trước khi ngủ, đánh răng, nạo lưỡi sạch, nhai 3 lá bỏng, mút bớt nước, đặt bã vào gạc vải (vô trùng) đắp vào mắt buộc chặt, sáng tháo ra, rửa mắt bằng nước pha muối. Làm như trên 3 ngày liền sẽ khỏi.
* Chữa đau mắt đỏ: giã nát đắp vào mắt.
* Ðổ máu cam: Nhai 1, 2 lá, lấy nước nhai thấm bông gòn đặt vào lỗ mũi độ 10 phút sau sẽ khỏi.
* Nuôi con mất sữa: Sáng, chiều mỗi lần ăn 8 lá, sau 2 ngày sẽ có sữa.
* Mất ngủ: Chiều và tối, ăn mỗi lần 8 lá, giấc ngủ sẽ đến sớm.
* Say rượu: ăn 10 lá, sau 10 phút sẽ khỏi say.
Hương Cỏ May sưu tầm, 8/6/2011
Cây thuốc bỏng được trồng và mọc tự nhiên tại nhiều vùng thuộc châu Á, Thái Bình Dương và Caribe.
Theo Đông y, cây lá bỏng có vị nhạt, hơi chua, tính mát, không độc, có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, tiêu độc, giúp vết thương chóng lên da non...
Giới thiệu một số bài thuốc dùng lá bỏng
* Trị chứng đi lỵ: Dùng 40g lá của cây bỏng, 16g cam thảo đất, 20g cỏ seo gà, 20g lá mơ lông. Rửa sạch sắc uống ngày 1 thang.
* Bệnh kiết lỵ (viêm đại tràng): Ngày ăn 20 lá (buổi sáng 8 lá, chiều 8 lá, tối 4 lá). Từ 5-10 tuổi ăn bằng 1/2 người lớn. Ăn 5 ngày là khỏi.
* Trị chứng trĩ: Dùng 6g lá bỏng, 6g rau sam. Rửa sạch nhai sống hoặc sắc uống. Nếu bị lòi dom và lở hậu môn thì nấu nước bồ kết ngâm rửa hậu môn và giã lá sống đời đắp vào búi trĩ.
* Bệnh trĩ nội: Mỗi ngày dùng 10 lá (sáng ăn 4 lá, chiều ăn 4 lá), tối 2 lá, nuốt bớt nước, bã bỏ vào gạc vải đắp vào hậu môn (đóng khố như phụ nữ thấy kinh). Nhớ trước khi đắp thuốc phải làm vệ sinh hậu môn bằng nước pha muối. Cứ làm theo cách trên, tùy bệnh nặng nhẹ, dùng từ 20-45 ngày đều khỏi.
* Trị chứng đại tiện ra máu: Lấy 30g lá bỏng, 10g cỏ nhọ nồi, 10g ngải cứu (sao cháy), 10g lá trắc bá (sao cháy) sắc lấy nước uống ngày 1 thang.
* Chữa mụn nhọt khi chưa có mủ: Lấy 30g lá bỏng, 15g lá đại, 20g lá táo. Rửa sạch, giã nát đắp vào mụn ngày 1 - 2 lần.
* Trị chứng viêm họng: Lấy 10 lá sống đời rửa sạch, chia nhai sáng 4 lá, chiều 4 lá, tối 2 lá. Nhai kỹ, ngậm một lúc rồi nuốt cả bã, dùng khoảng 3 - 5 ngày sẽ có kết quả.
* Tất cả các chứng đau họng: Sáng ăn 8 lá, chiều 8 lá sẽ khỏi ngay.
* Viêm họng: Nhai ngậm sáng 4 lần, chiều 4 lần, tối 2 lần (mỗi lần 1 lá, đều nhai ngậm và nuốt cả bã) dùng trong 3 ngày là khỏi.
* Trị chứng viêm xoang mũi: Lấy 2 lá sống đời rửa sạch, giã nát, lấy bông thấm nước thuốc nút vào lỗ mũi.
* Viêm xoang mũi: (Bệnh nhân trước khi nhai lá bỏng phải đánh răng, nạo lưỡi, súc miệng 2, 3 lần cho sạch miệng mới nhai). Mỗi lần nhai 2 lá, lấy nước nhai lá bỏng thấm vào bông, nút vào hố mũi bên viêm ngày 4,5 lần sẽ khỏi (Nếu viêm cả 2 bên thì sáng nút một bên chiều nút một bên).
* Chữa viêm tai giữa cấp tính: lá thuốc bỏng giã nát, vắt lấy nước nhỏ vào tai.
* Trị chứng viêm loét dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, đi ngoài ra máu: Lấy 50g lá bỏng rửa sạch, giã kỹ lấy nước uống, hoặc sắc uống. Hoặc ăn sống lá sống đời mỗi ngày 40g cũng cho kết quả tốt.
* Chữa viêm loét dạ dày: lá thuốc bỏng ăn sống mỗi ngày 40g.
* Giải rượu: Khi bị say rượu dùng 10 lá bỏng rửa sạch, nhai sống rất hiệu nghiệm.
* Trị chứng phong ngứa không rõ nguyên nhân: Lấy lá bỏng, lá bồ hòn, lá ké, lá răm nấu nước xông và tắm. Hoặc các vị trên thêm lá ké đầu ngựa sắc uống
* Chữa phong khí bỗng dưng phát ngứa: lá thuốc bỏng, nghể răm, lá ké và bồ hòn nấu nước xông và tắm. Trong dùng lá ké đầu ngựa sắc uống.
* Chữa nôn ra máu (do bị đánh, bị thương): 7 lá thuốc bỏng giã nát, thêm rượu và đường vào uống trong ngày.
* Ðau mắt đỏ và đau mắt hột: Trước khi ngủ, đánh răng, nạo lưỡi sạch, nhai 3 lá bỏng, mút bớt nước, đặt bã vào gạc vải (vô trùng) đắp vào mắt buộc chặt, sáng tháo ra, rửa mắt bằng nước pha muối. Làm như trên 3 ngày liền sẽ khỏi.
* Chữa đau mắt đỏ: giã nát đắp vào mắt.
* Ðổ máu cam: Nhai 1, 2 lá, lấy nước nhai thấm bông gòn đặt vào lỗ mũi độ 10 phút sau sẽ khỏi.
* Nuôi con mất sữa: Sáng, chiều mỗi lần ăn 8 lá, sau 2 ngày sẽ có sữa.
* Mất ngủ: Chiều và tối, ăn mỗi lần 8 lá, giấc ngủ sẽ đến sớm.
* Say rượu: ăn 10 lá, sau 10 phút sẽ khỏi say.
Hương Cỏ May sưu tầm, 8/6/2011
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
Walmartscholarship.Xyz Wapnews.Xyz Waponline.Xyz Wapworld.Xyz Washingtonattorney.Xyz Washingtonhome.Xyz Washingtoninsurance.Xyz Washingtonl...
-
Phiên giao dịch New York hôm qua đã chứng khiến giá vàng di chuyển theo hướng giảm trước – tăng sau. Mức đáy tại 1376.00/1377.00 sớm được ...
-
Nếu bạn muốn email của mình luôn được đọc đầu tiên và hữu ích đối với người nhận, hãy áp dụng những quy tắc sau: Tiêu đề đúng chủ đề Tiêu đề...
-
Với những người bị bệnh cao huyết áp nếu kết hợp việc uống thuốc hàng ngày với kiên trì thực hiện những biện pháp sau cũng sẽ có hiệu quả nh...
-
"Từ lúc có bé Cún thì vườn của nhà mình ít khi thiếu các loại rau, nhất là rau mầm, cho bé ăn thực phẩm nhà tự trồng mới yên tâm”, vừa ...
-
Ăn bột 2 bữa/ngày, mỗi bữa khoảng 1/2 – 2/3 chén với đủ 4 nhóm dinh dưỡng chính: chất bột đường, chất béo, chất đạm và rau, trái cây. Giữa c...
-
Trước thông tin phản ánh thực trạng một số cửa hàng kinh doanh nước giải khát ở Hà Nội sử dụng các loại bột, nguyên liệu không rõ nguồn gốc ...
-
Bài 1. 5 mẹo giúp con có mái tóc đen bóng tự nhiên Nếu muốn con mình có được mái tóc bóng mượt và đen tự nhiên, cha mẹ hãy chú ý những điều...
-
Trong thời gian gần đây bệnh sốt phát ban, với một tỷ lệ rất lớn người bệnh nhiễm Rubella đang lây lan và chưa có dấu hiệu chững lại, trong ...
-
Được viết cho mọi lứa tuổi, chỉ cần ít hơn một tiếng đồng hồ để đọc hết cuốn sách này nhưng những chiêm nghiệm của nó có thể có tác dụng suố...