Bán căn hộ chung cư tại Hà Nội, chuyển nhượng, mua bán nhà đất, đầy đủ, ... là một trong những dự án nhà ở chung cư phân khúc cao cấp thương lưu trên địa ...PhumyGroup.com
Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011
Bệnh lao ở trẻ em, triệu chứng điển hình và di chứng
Thông thường bệnh lao trẻ em được phân thành bốn loại cần phải điều trị là:
Lao sơ nhiễm hay còn gọi là lao khởi đầu
Lao cấp tính: có lao màng não và lao kê
Lao hô hấp sau sơ nhiễm: gồm lao phổi và lao màng phổi
Lao ngoài phổi: có nhiều loại như lao hạch, lao xương khớp, lao cột sống, lao màng bụng, màng tim, lao niệu – sinh dục, lao ruột…
Trẻ bị sơ nhiễm lao thường có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, sốt nhẹ về chiều, thỉnh thoảng có sốt cao. Ngoài ra còn có thể có ho khan, khạc đàm, đau ngực, khó thở. Tùy theo trẻ mắc loại lao gì mà bệnh cảnh còn có thêm những triệu chứng điển hình khác.
Lao khởi đầu (lao sơ nhiễm)
Thường gặp nhiều nhất, có thể xảy ra ở trẻ từ dưới 14 tuổi, nhưng thông thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và chưa được chủng ngừa BCG. Khi bị sơ nhiễm lao thường trẻ không có triệu chứng, hoặc có triệu chứng của cảm cúm thoáng qua, hay nóng sốt mệt mỏi… Một số trường hợp diễn tiến nhẹ và tự khỏi nếu trẻ có sức đề kháng tốt.
Lao cấp tính
Lao màng não, lao kê cấp tính là hai biến chứng nặng và sớm của sơ nhiễm lao, dễ đưa đến tử vong nếu không biết và để lại di chứng trầm trọng nếu chẩn đoán trễ. Bệnh xảy ra ở các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở trẻ không chủng ngừa BCG, trước 2 tuổi.
Lao màng não
Xảy ra từ 2-12 tháng sau sơ nhiễm lao, báo hiệu với triệu chứng sốt nhẹ, thay đổi tính nết. Sau đó một tuần sốt 380C, nhức đầu, ói mửa, khám thấy có cứng cổ và đôi khi có dấu hiệu tổn thương thần kinh, co giật, hôn mê, lé mắt, động kinh, sụp mí mắt. Nếu chẩn đoán chậm đưa đến di chứng nặng như di chứng tâm thần (thiểu năng trí tuệ, rối loạn tính tình, động kinh); yếu liệt nửa người, tay chân co rút, mù mắt, điếc…
Lao kê
Là lao cấp ở phổi, xuất hiện trong những tuần lễ đầu sau sơ nhiễm lao với triệu chứng sốt cao, mạch nhanh, ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, không có nốt hồng ban trên bụng (khác thương hàn) và luôn luôn có dấu hiệu hô hấp khó thở, tím tái. Trẻ bị lao kê thường dễ dẫn đến lao màng não.
Lao đường hô hấp
Lao màng phổi và phổi thường gặp ở trẻ lớn, gần tuổi dậy thì hơn là trẻ nhỏ. Thường có triệu chứng ho kéo dài, sốt nhẹ, sụt cân, ăn uống kém…
Lao ngoài phổi
Thường là biến chứng chậm hơn sau sơ nhiễm lao. Có nhiều dạng lao ngoài phổi như lao cột sống: giai đoạn đầu thường trẻ có biểu hiện đau vùng cột sống rồi từ từ gù lưng; lao xương, khớp: trẻ bị sưng đau khớp và chảy mủ ở xương khớp rò ra ngoài da; lao hệ niệu: trẻ có triệu chứng đi tiểu ra máu, thường có kèm theo sưng tinh hoàn – nếu là bé trai; lao hạch: nổi hạch thường từng chùm, dính nếu để trễ sẽ gây rò mủ làm sẹo xấu; lao ruột: đi tiêu lỏng hoặc đi tiêu ra đàm, máu kéo dài.
Chẩn đoán và điều trị lao ở trẻ em
Ở trẻ em việc chẩn đoán lao, tìm ra vi trùng lao thường khó hơn so với người lớn. Ngay cả bản thân trẻ bị lao phổi cũng khó tìm ra vi trùng lao vì trẻ chưa hoặc không biết khạc đàm. Đối với lao sơ nhiễm trẻ có những triệu chứng, biểu hiện giống như bệnh cảnh viêm đường hô hấp nên rất khó chẩn đoán.
Về điều trị lao ở trẻ em cũng giống như của người lớn. Tuy nhiên, phụ huynh phải tuân thủ điều trị cho con em mình đúng với hướng dẫn của thầy thuốc, điều trị đủ thời gian (6-9 tháng), đủ liều lượng thuốc, đúng phác đồ thì bệnh mới ổn định.
Lời khuyên cho các bậc phụ huynh
Các bậc phụ huynh hãy đưa con em đi tiêm phòng văcxin BCG theo chương trình tiêm chủng mở rộng; phát hiện và điều trị sớm những người trong gia đình bị bệnh lao, tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn lây lao; giữ gìn sức khỏe cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất để chống suy dinh dưỡng; giữ gìn môi trường sống tốt, nhà cửa thoáng đãng, sạch sẽ…
Trong gia đình có người bị lao thì cách ly trẻ, không nên tiếp xúc gần gũi (hôn hít) với trẻ… Khi trẻ có triệu chứng nghi bị lao (ho sốt kéo dài, sút cân hoặc không lên cân, ra mồ hôi trộm…) cần đưa ngay đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị đúng theo công thức của chương trình chống lao quốc gia, đảm bảo theo nguyên tắc DOST (hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát).
Nguồn: http://meyeucon.org/11209/benh-lao-o-tre-em-trieu-chung-dien-hinh-va-di-chung/
Lao sơ nhiễm hay còn gọi là lao khởi đầu
Lao cấp tính: có lao màng não và lao kê
Lao hô hấp sau sơ nhiễm: gồm lao phổi và lao màng phổi
Lao ngoài phổi: có nhiều loại như lao hạch, lao xương khớp, lao cột sống, lao màng bụng, màng tim, lao niệu – sinh dục, lao ruột…
Trẻ bị sơ nhiễm lao thường có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, sốt nhẹ về chiều, thỉnh thoảng có sốt cao. Ngoài ra còn có thể có ho khan, khạc đàm, đau ngực, khó thở. Tùy theo trẻ mắc loại lao gì mà bệnh cảnh còn có thêm những triệu chứng điển hình khác.
Lao khởi đầu (lao sơ nhiễm)
Thường gặp nhiều nhất, có thể xảy ra ở trẻ từ dưới 14 tuổi, nhưng thông thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và chưa được chủng ngừa BCG. Khi bị sơ nhiễm lao thường trẻ không có triệu chứng, hoặc có triệu chứng của cảm cúm thoáng qua, hay nóng sốt mệt mỏi… Một số trường hợp diễn tiến nhẹ và tự khỏi nếu trẻ có sức đề kháng tốt.
Lao cấp tính
Lao màng não, lao kê cấp tính là hai biến chứng nặng và sớm của sơ nhiễm lao, dễ đưa đến tử vong nếu không biết và để lại di chứng trầm trọng nếu chẩn đoán trễ. Bệnh xảy ra ở các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở trẻ không chủng ngừa BCG, trước 2 tuổi.
Lao màng não
Xảy ra từ 2-12 tháng sau sơ nhiễm lao, báo hiệu với triệu chứng sốt nhẹ, thay đổi tính nết. Sau đó một tuần sốt 380C, nhức đầu, ói mửa, khám thấy có cứng cổ và đôi khi có dấu hiệu tổn thương thần kinh, co giật, hôn mê, lé mắt, động kinh, sụp mí mắt. Nếu chẩn đoán chậm đưa đến di chứng nặng như di chứng tâm thần (thiểu năng trí tuệ, rối loạn tính tình, động kinh); yếu liệt nửa người, tay chân co rút, mù mắt, điếc…
Lao kê
Là lao cấp ở phổi, xuất hiện trong những tuần lễ đầu sau sơ nhiễm lao với triệu chứng sốt cao, mạch nhanh, ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, không có nốt hồng ban trên bụng (khác thương hàn) và luôn luôn có dấu hiệu hô hấp khó thở, tím tái. Trẻ bị lao kê thường dễ dẫn đến lao màng não.
Lao đường hô hấp
Lao màng phổi và phổi thường gặp ở trẻ lớn, gần tuổi dậy thì hơn là trẻ nhỏ. Thường có triệu chứng ho kéo dài, sốt nhẹ, sụt cân, ăn uống kém…
Lao ngoài phổi
Thường là biến chứng chậm hơn sau sơ nhiễm lao. Có nhiều dạng lao ngoài phổi như lao cột sống: giai đoạn đầu thường trẻ có biểu hiện đau vùng cột sống rồi từ từ gù lưng; lao xương, khớp: trẻ bị sưng đau khớp và chảy mủ ở xương khớp rò ra ngoài da; lao hệ niệu: trẻ có triệu chứng đi tiểu ra máu, thường có kèm theo sưng tinh hoàn – nếu là bé trai; lao hạch: nổi hạch thường từng chùm, dính nếu để trễ sẽ gây rò mủ làm sẹo xấu; lao ruột: đi tiêu lỏng hoặc đi tiêu ra đàm, máu kéo dài.
Chẩn đoán và điều trị lao ở trẻ em
Ở trẻ em việc chẩn đoán lao, tìm ra vi trùng lao thường khó hơn so với người lớn. Ngay cả bản thân trẻ bị lao phổi cũng khó tìm ra vi trùng lao vì trẻ chưa hoặc không biết khạc đàm. Đối với lao sơ nhiễm trẻ có những triệu chứng, biểu hiện giống như bệnh cảnh viêm đường hô hấp nên rất khó chẩn đoán.
Về điều trị lao ở trẻ em cũng giống như của người lớn. Tuy nhiên, phụ huynh phải tuân thủ điều trị cho con em mình đúng với hướng dẫn của thầy thuốc, điều trị đủ thời gian (6-9 tháng), đủ liều lượng thuốc, đúng phác đồ thì bệnh mới ổn định.
Lời khuyên cho các bậc phụ huynh
Các bậc phụ huynh hãy đưa con em đi tiêm phòng văcxin BCG theo chương trình tiêm chủng mở rộng; phát hiện và điều trị sớm những người trong gia đình bị bệnh lao, tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn lây lao; giữ gìn sức khỏe cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất để chống suy dinh dưỡng; giữ gìn môi trường sống tốt, nhà cửa thoáng đãng, sạch sẽ…
Trong gia đình có người bị lao thì cách ly trẻ, không nên tiếp xúc gần gũi (hôn hít) với trẻ… Khi trẻ có triệu chứng nghi bị lao (ho sốt kéo dài, sút cân hoặc không lên cân, ra mồ hôi trộm…) cần đưa ngay đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị đúng theo công thức của chương trình chống lao quốc gia, đảm bảo theo nguyên tắc DOST (hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát).
Nguồn: http://meyeucon.org/11209/benh-lao-o-tre-em-trieu-chung-dien-hinh-va-di-chung/
Tiêm chủng cho trẻ em
Phần 1. Lịch tiêm chủng cho trẻ em
Phần 2. Tiêm chủng và các phản ứng phụ
Để ngừa 6 bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, sởi, sốt bại liệt và lao, từ năm 1981 tất cả trẻ em Việt Nam đều được chủng ngừa miễn phí theo lịch tiêm chủng của Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia. Các bậc cha mẹ đều nắm rõ điều này; tuy nhiên ít người quan tâm chỉ định cấm chủng ngừa khi trẻ không khoẻ dưới đây.
Lao
Việc ngừa lao cho trẻ sơ sinh được thực hiện bằng cách tiêm vaccine BCG ngay trong tuần đầu sau sinh. Thuốc được tiêm trong da. Sau khi tiêm, có thể nổi mẩn đỏ, sưng tấy nhẹ, hoặc loét tại chỗ tiêm.
Không nên tiêm cho trẻ bị viêm da có mủ, đang bị sốt trên 37,5 độ C, bị tiêu chảy, suy dinh dưỡng, bệnh tai mũi họng, viêm phổi, vàng da,... và nhất là trẻ bị nhiễm HIV. Việc tiêm BCG có hiệu quả lâu dài, nhưng không được dùng cho những người đã bị lao.
Bạch hầu, uốn ván, ho gà
Việc tiêm ngừa bệnh bạch hầu, uốn ván và ho gà được thực hiện cùng một lúc khi các trẻ đã được 2 tháng tuổi. Thuốc chủng ngừa được pha trộn chung, viết tắt là DTP (theo tiếng Anh) hoặc DTC (theo tiếng Pháp) và được tiêm vào bắp thịt của trẻ.
Theo lịch tiêm chủng, trẻ được tiêm 8 liều cách nhau ít nhất 30 ngày. Liều thứ nhất khi trẻ
được 2 tháng tuổi. Liều thứ ba trước khi trẻ được 12 tháng tuổi. Trẻ sẽ được tiêm nhắc lại 1 năm sau khi tiêm liều thứ ba. Thuốc có hiệu quả bảo vệ trong nhiều năm sau khi đã tiêm đủ liều. Tại chỗ tiêm ngừa có thể bị nổi mẩn đỏ, sưng đau nhẹ, gây sốt 38-39oC.
Trong trường hợp trẻ đang mắc bệnh nhiễm khuẩn, sốt cao, rối loạn thần kinh... không nên tiêm ngừa.
Bại liệt
Trẻ sẽ được chủng ngừa sốt bại liệt cùng lúc với tiêm ngừa bạch hầu, uốn ván, ho gà bằng thuốc ngừa dạng uống (vaccin Sabin): uống ba lần vào lúc 2 tháng tuổi, 3 tháng tuổi và 4 tháng tuổi. Trẻ sẽ được bảo vệ trong 10 năm. Sau khi uống thuốc ngừa, trẻ có thể bị nhức đầu, đau cơ hoặc tiêu chảy và rất hiếm khi bị liệt mềm cấp (1/5 triệu các trường hợp).
Tuyệt đối không được cho uống Sabin ngừa sốt bại liệt trong lúc trẻ đang bị sốt, bị nôn, tiêu chảy, đang được điều trị bằng thuốc corticoid, mắc bệnh ác tính (u lympho, bạch cầu cấp...) hoặc bị nhiễm HIV. Không cho các cháu uống thuốc Sabin đồng thời với vaccine thương hàn uống.
Với một số trường hợp trẻ không uống được, nên dùng vaccine dạng tiêm (vaccine Salk).
Sởi
Trẻ được chủng ngừa bệnh sởi khi đã hơn 9 tháng tuổi. Thuốc được tiêm dưới da và có tác dụng bảo vệ trong nhiều năm. Sau khi tiêm, có thể có phản ứng tại chỗ tiêm: sưng đỏ, nổi mụn nước. Trẻ cũng có thể bị sốt, ho, sổ mũi và nhức đầu. Thuốc ngừa bệnh sởi được tiêm một lần.
Khi trẻ đang sốt cao, bị suy giảm miễn dịch nhiễm HIV, cần hoãn tiêm thuốc ngừa bệnh sởi.
Viêm gan siêu vi B
Từ năm 1995, việc phòng ngừa viêm gan siêu vi B (VGSVB) được chưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng. Theo đó, tất cả trẻ em được tiêm ba mũi:
Mũi thứ nhất: 0-2 tháng tuổi.
Mũi thứ hai: sau lần mũi đầu 1-4 tháng.
Mũi thứ ba: sau mũi 2 từ 6 đến 18 tháng.
Hầu hết các vaccine ngừa VGSVB đều rất an toàn. Một số ít các trường hợp có thể bị sốt nhẹ, đau chỗ tiêm, nôn ói, chóng mặt, mệt mỏi, đau cơ sau khi tiêm.
Đối với trẻ sinh ra nhẹ cân (ít hơn 1,5kg) có thể chờ cho đến khi trẻ được 2kg hoặc từ 2 tháng tuổi mới bắt đầu tiêm ngừa VGSVB.
Viêm não Nhật Bản
Để phòng ngừa bệnh viêm não Nhật Bản, trẻ cũng cần được tiêm 3 mũi dưới da:
Mũi tiêm đầu: Khi trẻ hơn 1 tuổi.
Mũi thứ hai: Tiêm sau mũi thứ nhất 1-2 tuần.
Mũi thứ ba: Sau mũi thứ hai 1 năm.
Sau khi tiêm, ngay tại chỗ tiêm có thể bị đỏ, sưng tấy. Đôi khi trẻ bị ớn lạnh, đau đầu, sốt sau khi tiêm.
Tiêm ngừa bệnh viêm não Nhật Bản không dược tiến hành cho trẻ đang sốt cao, mắc bệnh tim, thận, gan, tiểu đường hoặc suy dinh dưỡng, đang mắc bệnh ung thư máu và nhất là trẻ đã từng bị dị ứng với thuốc ngừa VNNB.
Các bệnh khác
Tại Việt Nam, việc tiêm phòng tả và thương hàn đã được nhắc đến, và tùy theo tình hình dịch tễ của từng địa phương, mà các bệnh này được xem xét đưa hay không đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng.
Bên cạnh 8 bệnh nói trên trong chương trình này, một số bệnh khác từ lâu đã có vaccine phòng ngừa như: dại, thủy đậu, viêm màng não, quai bị, cúm,... cũng được quan tâm. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học đưa ra quan điểm (đến nay vẫn chưa thống nhất) không nên tiêm ngừa quá nhiều loại vaccine cho trẻ, đề phòng gây ''quá tải'' cho hệ miễn dịch của cơ thể.
(Theo Thuốc & Sức khoẻ)
Tính đến nay , mũi tiêm phòng lao của cháu đã được 5tháng . Sau khi tiêm, đến tháng thứ 3 cháu mới có hiện tượng mưng mủ , tấy đỏ tại nốt tiêm . BS bảo sau vài ngày sẽ thành sẹo nhưng đến nay vết đó vẫn tấy đỏ và đầu có mủ đóng vẩy . Xin hỏi bsĩ như thế có sao không ả (Trần Minh Thoa)
Trả lời: Bạn đừng lo lắng nếu sau khi tiêm phòng lao, vết tiêm của bé loét to kéo dài tạo thành một áp-xe. Đây là một hiện tượng hết sức bình thường, chỉ cần giữ vệ sinh để vết loét không bội nhiễm.
Hiện Việt Nam dùng văcxin phòng lao BCG sống đông khô. Trẻ sơ sinh được tiêm một mũi văcxin BCG càng sớm càng tốt. Sau khi tiêm BCG, trẻ sẽ có phản ứng, tại nơi tiêm có thể loét to kéo dài hoặc thành một áp-xe. Theo dõi trẻ khoảng 3-4 tuần sau khi tiêm sẽ thấy có một nốt sưng nhỏ, 10-15 ngày sau sẽ rò dịch vài tuần rồi kín miệng, làm vảy. Khi vảy rụng sẽ để lại một sẹo nhỏ tồn tại trong nhiều năm.
Theo một số thống kê của Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương và Chương trình tiêm chủng mở rộng, có khoảng 10-20% trường hợp nốt loét có thể to hơn (đường kính 5-8 mm), làm mủ và kéo dài 3-4 tháng. Ở một số cháu, nốt loét có thể kéo dài trên 4 tháng mới đóng vảy và liền sẹo. Trong những trường hợp này, có thể dùng dung dịch INH 1% hoặc bột INH rắc tại chỗ. Cần giữ sạch vết loét để tránh bội nhiễm, sẽ làm cho việc điều trị trở nên phức tạp.
Biến chứng hay gặp sau khi tiêm văcxin BCG là nổi hạch (hay còn gọi là viêm hạch lympho - viêm hạch mủ), tỷ lệ dưới 1%. Ở những trường hợp này, một cục hạch sẽ nổi lên ở nách trái trong một hay vài tháng (thường là trong 6 tháng sau khi tiêm), vì thường tiêm ở vai trái hoặc ở hố trên đòn. Hạch này mềm, di động, sưng chậm, sau đó vỡ, có thể rò kéo dài trong vài tháng rồi lành tự nhiên. Bởi vậy, các bà mẹ cần phải phân biệt đây không phải là lao hạch. Đối với hạch mủ, điều trị bằng cách chích, rồi rửa sạch, rắc bột INH tại chỗ.
Có trường hợp bị nhiễm bệnh do trực khuẩn dùng để sản xuất văcxin BCG hoặc viêm xương (rất hiếm gặp, ở Việt Nam chưa phát hiện trường hợp nào).
Trẻ em được tiêm phòng lao bằng BCG có thể tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Nhưng dù đã tiêm phòng lao, ở thời kỳ chưa có miễn dịch, các bà mẹ vẫn không nên để trẻ tiếp xúc với nguồn lây. Khi đã có miễn dịch rồi cũng hết sức hạn chế, không để trẻ cùng sống hay tiếp xúc với người ho khạc ra vi khuẩn lao, đồng thời tránh các bệnh nhiễm khuẩn khác làm suy sụp miễn dịch lao.
Bs.Thuocbietduoc
Phần 2. Tiêm chủng và các phản ứng phụ
Khi nào không được tiêm chủng cho trẻ
Để ngừa 6 bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, sởi, sốt bại liệt và lao, từ năm 1981 tất cả trẻ em Việt Nam đều được chủng ngừa miễn phí theo lịch tiêm chủng của Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia. Các bậc cha mẹ đều nắm rõ điều này; tuy nhiên ít người quan tâm chỉ định cấm chủng ngừa khi trẻ không khoẻ dưới đây.
Lao
Việc ngừa lao cho trẻ sơ sinh được thực hiện bằng cách tiêm vaccine BCG ngay trong tuần đầu sau sinh. Thuốc được tiêm trong da. Sau khi tiêm, có thể nổi mẩn đỏ, sưng tấy nhẹ, hoặc loét tại chỗ tiêm.
Không nên tiêm cho trẻ bị viêm da có mủ, đang bị sốt trên 37,5 độ C, bị tiêu chảy, suy dinh dưỡng, bệnh tai mũi họng, viêm phổi, vàng da,... và nhất là trẻ bị nhiễm HIV. Việc tiêm BCG có hiệu quả lâu dài, nhưng không được dùng cho những người đã bị lao.
Bạch hầu, uốn ván, ho gà
Việc tiêm ngừa bệnh bạch hầu, uốn ván và ho gà được thực hiện cùng một lúc khi các trẻ đã được 2 tháng tuổi. Thuốc chủng ngừa được pha trộn chung, viết tắt là DTP (theo tiếng Anh) hoặc DTC (theo tiếng Pháp) và được tiêm vào bắp thịt của trẻ.
Theo lịch tiêm chủng, trẻ được tiêm 8 liều cách nhau ít nhất 30 ngày. Liều thứ nhất khi trẻ
được 2 tháng tuổi. Liều thứ ba trước khi trẻ được 12 tháng tuổi. Trẻ sẽ được tiêm nhắc lại 1 năm sau khi tiêm liều thứ ba. Thuốc có hiệu quả bảo vệ trong nhiều năm sau khi đã tiêm đủ liều. Tại chỗ tiêm ngừa có thể bị nổi mẩn đỏ, sưng đau nhẹ, gây sốt 38-39oC.
Trong trường hợp trẻ đang mắc bệnh nhiễm khuẩn, sốt cao, rối loạn thần kinh... không nên tiêm ngừa.
Bại liệt
Trẻ sẽ được chủng ngừa sốt bại liệt cùng lúc với tiêm ngừa bạch hầu, uốn ván, ho gà bằng thuốc ngừa dạng uống (vaccin Sabin): uống ba lần vào lúc 2 tháng tuổi, 3 tháng tuổi và 4 tháng tuổi. Trẻ sẽ được bảo vệ trong 10 năm. Sau khi uống thuốc ngừa, trẻ có thể bị nhức đầu, đau cơ hoặc tiêu chảy và rất hiếm khi bị liệt mềm cấp (1/5 triệu các trường hợp).
Tuyệt đối không được cho uống Sabin ngừa sốt bại liệt trong lúc trẻ đang bị sốt, bị nôn, tiêu chảy, đang được điều trị bằng thuốc corticoid, mắc bệnh ác tính (u lympho, bạch cầu cấp...) hoặc bị nhiễm HIV. Không cho các cháu uống thuốc Sabin đồng thời với vaccine thương hàn uống.
Với một số trường hợp trẻ không uống được, nên dùng vaccine dạng tiêm (vaccine Salk).
Sởi
Trẻ được chủng ngừa bệnh sởi khi đã hơn 9 tháng tuổi. Thuốc được tiêm dưới da và có tác dụng bảo vệ trong nhiều năm. Sau khi tiêm, có thể có phản ứng tại chỗ tiêm: sưng đỏ, nổi mụn nước. Trẻ cũng có thể bị sốt, ho, sổ mũi và nhức đầu. Thuốc ngừa bệnh sởi được tiêm một lần.
Khi trẻ đang sốt cao, bị suy giảm miễn dịch nhiễm HIV, cần hoãn tiêm thuốc ngừa bệnh sởi.
Viêm gan siêu vi B
Từ năm 1995, việc phòng ngừa viêm gan siêu vi B (VGSVB) được chưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng. Theo đó, tất cả trẻ em được tiêm ba mũi:
Mũi thứ nhất: 0-2 tháng tuổi.
Mũi thứ hai: sau lần mũi đầu 1-4 tháng.
Mũi thứ ba: sau mũi 2 từ 6 đến 18 tháng.
Hầu hết các vaccine ngừa VGSVB đều rất an toàn. Một số ít các trường hợp có thể bị sốt nhẹ, đau chỗ tiêm, nôn ói, chóng mặt, mệt mỏi, đau cơ sau khi tiêm.
Đối với trẻ sinh ra nhẹ cân (ít hơn 1,5kg) có thể chờ cho đến khi trẻ được 2kg hoặc từ 2 tháng tuổi mới bắt đầu tiêm ngừa VGSVB.
Viêm não Nhật Bản
Để phòng ngừa bệnh viêm não Nhật Bản, trẻ cũng cần được tiêm 3 mũi dưới da:
Mũi tiêm đầu: Khi trẻ hơn 1 tuổi.
Mũi thứ hai: Tiêm sau mũi thứ nhất 1-2 tuần.
Mũi thứ ba: Sau mũi thứ hai 1 năm.
Sau khi tiêm, ngay tại chỗ tiêm có thể bị đỏ, sưng tấy. Đôi khi trẻ bị ớn lạnh, đau đầu, sốt sau khi tiêm.
Tiêm ngừa bệnh viêm não Nhật Bản không dược tiến hành cho trẻ đang sốt cao, mắc bệnh tim, thận, gan, tiểu đường hoặc suy dinh dưỡng, đang mắc bệnh ung thư máu và nhất là trẻ đã từng bị dị ứng với thuốc ngừa VNNB.
Các bệnh khác
Tại Việt Nam, việc tiêm phòng tả và thương hàn đã được nhắc đến, và tùy theo tình hình dịch tễ của từng địa phương, mà các bệnh này được xem xét đưa hay không đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng.
Bên cạnh 8 bệnh nói trên trong chương trình này, một số bệnh khác từ lâu đã có vaccine phòng ngừa như: dại, thủy đậu, viêm màng não, quai bị, cúm,... cũng được quan tâm. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học đưa ra quan điểm (đến nay vẫn chưa thống nhất) không nên tiêm ngừa quá nhiều loại vaccine cho trẻ, đề phòng gây ''quá tải'' cho hệ miễn dịch của cơ thể.
(Theo Thuốc & Sức khoẻ)
Hỏi về vết loét sau khi tiêm phòng lao cho trẻ
Tính đến nay , mũi tiêm phòng lao của cháu đã được 5tháng . Sau khi tiêm, đến tháng thứ 3 cháu mới có hiện tượng mưng mủ , tấy đỏ tại nốt tiêm . BS bảo sau vài ngày sẽ thành sẹo nhưng đến nay vết đó vẫn tấy đỏ và đầu có mủ đóng vẩy . Xin hỏi bsĩ như thế có sao không ả (Trần Minh Thoa)
Trả lời: Bạn đừng lo lắng nếu sau khi tiêm phòng lao, vết tiêm của bé loét to kéo dài tạo thành một áp-xe. Đây là một hiện tượng hết sức bình thường, chỉ cần giữ vệ sinh để vết loét không bội nhiễm.
Hiện Việt Nam dùng văcxin phòng lao BCG sống đông khô. Trẻ sơ sinh được tiêm một mũi văcxin BCG càng sớm càng tốt. Sau khi tiêm BCG, trẻ sẽ có phản ứng, tại nơi tiêm có thể loét to kéo dài hoặc thành một áp-xe. Theo dõi trẻ khoảng 3-4 tuần sau khi tiêm sẽ thấy có một nốt sưng nhỏ, 10-15 ngày sau sẽ rò dịch vài tuần rồi kín miệng, làm vảy. Khi vảy rụng sẽ để lại một sẹo nhỏ tồn tại trong nhiều năm.
Theo một số thống kê của Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương và Chương trình tiêm chủng mở rộng, có khoảng 10-20% trường hợp nốt loét có thể to hơn (đường kính 5-8 mm), làm mủ và kéo dài 3-4 tháng. Ở một số cháu, nốt loét có thể kéo dài trên 4 tháng mới đóng vảy và liền sẹo. Trong những trường hợp này, có thể dùng dung dịch INH 1% hoặc bột INH rắc tại chỗ. Cần giữ sạch vết loét để tránh bội nhiễm, sẽ làm cho việc điều trị trở nên phức tạp.
Biến chứng hay gặp sau khi tiêm văcxin BCG là nổi hạch (hay còn gọi là viêm hạch lympho - viêm hạch mủ), tỷ lệ dưới 1%. Ở những trường hợp này, một cục hạch sẽ nổi lên ở nách trái trong một hay vài tháng (thường là trong 6 tháng sau khi tiêm), vì thường tiêm ở vai trái hoặc ở hố trên đòn. Hạch này mềm, di động, sưng chậm, sau đó vỡ, có thể rò kéo dài trong vài tháng rồi lành tự nhiên. Bởi vậy, các bà mẹ cần phải phân biệt đây không phải là lao hạch. Đối với hạch mủ, điều trị bằng cách chích, rồi rửa sạch, rắc bột INH tại chỗ.
Có trường hợp bị nhiễm bệnh do trực khuẩn dùng để sản xuất văcxin BCG hoặc viêm xương (rất hiếm gặp, ở Việt Nam chưa phát hiện trường hợp nào).
Trẻ em được tiêm phòng lao bằng BCG có thể tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Nhưng dù đã tiêm phòng lao, ở thời kỳ chưa có miễn dịch, các bà mẹ vẫn không nên để trẻ tiếp xúc với nguồn lây. Khi đã có miễn dịch rồi cũng hết sức hạn chế, không để trẻ cùng sống hay tiếp xúc với người ho khạc ra vi khuẩn lao, đồng thời tránh các bệnh nhiễm khuẩn khác làm suy sụp miễn dịch lao.
Bs.Thuocbietduoc
Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011
Những lý do làm trẻ khóc
Khi trẻ khóc, cha mẹ không nên can thiệp ngay mà cần đợi một thời gian rồi mới tới vỗ về và đáp ứng các nhu cầu của bé.
Điều này mang lại các lợi ích: Giúp trẻ phát triển khả năng nói về sau này, giúp phổi và cơ miệng phát triển ( cũng giống như việc tập thể dục), giúp trẻ đẩy hết các khí thừa và sẽ giảm việc trớ khi bú. Khi để trẻ khóc cũng giúp trẻ ngủ sâu hơn sau đó và bú cũng nhiều, nhanh hơn. Theo cá nhân mình thì đó là tiếng hét của trẻ vì hoàn tòan không có nước mắt. Khi có cảm giác khó chịu trẻ sẽ hét để báo cho chúng ta biết. Nhiều bà mẹ khi thấy trẻ mới ọ ẹ đã cho bú hoặc thay tã điều này là rất không nên vì lúc đó trẻ chưa thật sự khó chịu. Hãy đợi đến khi trẻ hét 1 lúc thì mới xem là trẻ đang khó chịu về vấn đề gì. Tuy nhiên cũng không nên trẻ hét quá lâu (quá 20 - 30 phút) vì sẽ làm bé mất quá nhiều sức. (Theo Kinh nghiệm của Live)
===============================================================Những lý do khiến trẻ khóc
Khi chưa biết nói, tiếng khóc là ngôn ngữ duy nhất để trẻ thông báo cho người lớn biết mình đang có những biểu hiện bất thường bên trong cơ thể. Dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản khiến trẻ hay quấy khóc, mẹ cùng tham khảo nhé!
Khi chưa biết nói, tiếng khóc là ngôn ngữ duy nhất để trẻ thông báo cho người lớn biết mình đang có những biểu hiện bất thường bên trong cơ thể. Dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản khiến trẻ hay quấy khóc, mẹ cùng tham khảo nhé!
1. Trẻ bị đói
Đói chính là lý do khiến trẻ hay khóc nhất. Trẻ không thể chờ đợi cũng như không thể hiểu rằng, mẹ cần có thời gian để nấu bột. Mỗi khi đói hoặc khát nước, trẻ chỉ biết biểu hiện qua quấy khóc.
Đói chính là lý do khiến trẻ hay khóc nhất. Trẻ không thể chờ đợi cũng như không thể hiểu rằng, mẹ cần có thời gian để nấu bột. Mỗi khi đói hoặc khát nước, trẻ chỉ biết biểu hiện qua quấy khóc.
2. Tã lót dơ bẩn
Bé sẽ rất khó chịu khi tã ẩm ướt, hơn nữa làn da mỏng của trẻ sơ sinh đặc biệt mẫn cảm và dễ bị tổn thương. Vì vậy bạn nhớ nhanh tay dọn “chất thải” để tránh vi trùng độc hại thâm nhập vào cơ thể bé qua đường tiết niệu.
3. Hãy ôm ấp con
Nhiều lúc trẻ thích sự gần gũi, vuốt ve hơn cả ăn uống. Vừa cho con ăn mười lăm phút, con đã khóc? Hãy bế bé và nựng bé, đơn giản có thể trẻ thèm hơi người thân. Lời thiên hạ: “Nuông chiều quá, con sẽ hư” hoàn toàn không đúng trong trường hợp này.
Bé sẽ rất khó chịu khi tã ẩm ướt, hơn nữa làn da mỏng của trẻ sơ sinh đặc biệt mẫn cảm và dễ bị tổn thương. Vì vậy bạn nhớ nhanh tay dọn “chất thải” để tránh vi trùng độc hại thâm nhập vào cơ thể bé qua đường tiết niệu.
3. Hãy ôm ấp con
Nhiều lúc trẻ thích sự gần gũi, vuốt ve hơn cả ăn uống. Vừa cho con ăn mười lăm phút, con đã khóc? Hãy bế bé và nựng bé, đơn giản có thể trẻ thèm hơi người thân. Lời thiên hạ: “Nuông chiều quá, con sẽ hư” hoàn toàn không đúng trong trường hợp này.
4. Nguyên nhân do
Môi trường
Nhiệt độ môi trường quá nóng hay quá lạnh, âm thanh quá ồn ào, ánh sáng quá chói... cũng làm trẻ cảm thấy khó chịu, quấy khóc. Phòng của trẻ nên để thông thoáng, mát mẻ, giảm bớt cường độ ánh sáng đèn, không mở nhạc và ti vi quá to, bạn nên mở nhạc nhẹ du dương êm ái.
5. Bé buồn ngủ
Các bà mẹ nên tập thói quen cho bé ngủ đúng giờ, điều này tốt cho sức khỏe của bé. Nếu bé quá buồn ngủ mà vẫn chưa được mẹ cho ngủ, biểu hiện đầu tiên của các bé là quấy khóc. Bạn cần phải quyết định thay bé - đã đến giờ đi ngủ. Cùng với thời gian, người lớn sẽ nhận biết những tín hiệu buồn ngủ do cơ thể bé phát ra.
Môi trường
Nhiệt độ môi trường quá nóng hay quá lạnh, âm thanh quá ồn ào, ánh sáng quá chói... cũng làm trẻ cảm thấy khó chịu, quấy khóc. Phòng của trẻ nên để thông thoáng, mát mẻ, giảm bớt cường độ ánh sáng đèn, không mở nhạc và ti vi quá to, bạn nên mở nhạc nhẹ du dương êm ái.
5. Bé buồn ngủ
Các bà mẹ nên tập thói quen cho bé ngủ đúng giờ, điều này tốt cho sức khỏe của bé. Nếu bé quá buồn ngủ mà vẫn chưa được mẹ cho ngủ, biểu hiện đầu tiên của các bé là quấy khóc. Bạn cần phải quyết định thay bé - đã đến giờ đi ngủ. Cùng với thời gian, người lớn sẽ nhận biết những tín hiệu buồn ngủ do cơ thể bé phát ra.
6. Mọc răng
Bé mọc răng thường chảy nước dãi, hay cho tay vào miệng. Vì khó chịu trong miệng nên cũng hay khóc nhè. Khi mọc răng, lợi bé sưng to rất khó chịu, bạn nên chú ý vệ sinh nướu, lợi bé thật kỹ trong giai đoạn bé mọc răng.
7. Ngạt Mũi, khó thở
Trời mua đông trẻ hay bị viêm và ngạt mũi dẫn đến khó thở cũng làm trẻ khóc, lúc đó trẻ sẽ thở qua đường miệng nên rất không tốt. Bạn nên chuẩn bị tủ thuốc cho bé ở nhà luôn sẵn sàng các loại thuốc cơ bản như thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, hạ sốt, bông gạc... để chủ động trong việc chữa trị.
8. Trẻ đau
Trẻ bị các vật nhọn, sắc đâm hoặc cứa vào người như kim băng hay nhãn mắc quần áo. Bạn nên cắt hết các mác quần áo trước khi mặc cho bé. Bé bị đau sau khi tiêm phòng, điều đó là bình thường chứng tỏ bé có phản ứng lại với thuốc vacxin. Bé có thể bị đau do muỗi đốt và kiến cắn, bạn nên mắc màn khi bé ngủ và bôi thuốc cho bé kịp thời cho bé đỡ khó chịu.
9. Trẻ ốm sốt
Khi trẻ sốt, người mệt mỏi chán ăn cũng làm trẻ quấy khóc. Bạn nên thường xuyên kiểm tra nhiệt độ của bé bằng nhiệt kế. Nếu nhiệt độ cao trên 38o nên đi khám bác sỹ để có tư vấn và chữa trị kịp thời.
Bé mọc răng thường chảy nước dãi, hay cho tay vào miệng. Vì khó chịu trong miệng nên cũng hay khóc nhè. Khi mọc răng, lợi bé sưng to rất khó chịu, bạn nên chú ý vệ sinh nướu, lợi bé thật kỹ trong giai đoạn bé mọc răng.
7. Ngạt Mũi, khó thở
Trời mua đông trẻ hay bị viêm và ngạt mũi dẫn đến khó thở cũng làm trẻ khóc, lúc đó trẻ sẽ thở qua đường miệng nên rất không tốt. Bạn nên chuẩn bị tủ thuốc cho bé ở nhà luôn sẵn sàng các loại thuốc cơ bản như thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, hạ sốt, bông gạc... để chủ động trong việc chữa trị.
8. Trẻ đau
Trẻ bị các vật nhọn, sắc đâm hoặc cứa vào người như kim băng hay nhãn mắc quần áo. Bạn nên cắt hết các mác quần áo trước khi mặc cho bé. Bé bị đau sau khi tiêm phòng, điều đó là bình thường chứng tỏ bé có phản ứng lại với thuốc vacxin. Bé có thể bị đau do muỗi đốt và kiến cắn, bạn nên mắc màn khi bé ngủ và bôi thuốc cho bé kịp thời cho bé đỡ khó chịu.
9. Trẻ ốm sốt
Khi trẻ sốt, người mệt mỏi chán ăn cũng làm trẻ quấy khóc. Bạn nên thường xuyên kiểm tra nhiệt độ của bé bằng nhiệt kế. Nếu nhiệt độ cao trên 38o nên đi khám bác sỹ để có tư vấn và chữa trị kịp thời.
10. Trẻ thiếu chất
Trẻ thường khóc đêm mà dân gian gọi là “ dạ đề”. Nếu kèm theo các triệu chứng như tóc thưa, dựng đứng lên hoặc trụi từng mảng, trán quá dô thì đó là do trẻ bị thiếu chất, đặc biệt là vitamin D. Bà mẹ nên kiểm tra xem mình đã ăn đủ chất để cho con bú hay chưa. Và nên cho bé ra ngoài tắm nắng hàng ngày vào buổi sáng. =====================================================================

- Khi bé bắt đầu khóc, hãy đợi 1-2 phút trước khi tới để vỗ về. Đụng chạm và nói chuyện với bé càng ít càng tốt. Đừng bế bé dậy và cũng đừng bật đèn.
- Rời khỏi phòng khi bé thôi khóc. Lần sau, nếu bé lại khóc, hãy đợi 3-4 phút, và lần tiếp theo thì đợi 5-6 phút. Nhớ là không bế bé dậy và không bật đèn.
Tiếp tục bài tập này cho tới khi bé ngủ thiếp đi. Một số phụ huynh có thể đợi tối đa 10 phút trước khi bước vào phòng con, nhưng có người có thể đợi được 15 phút và lâu hơn.
Đa số cha mẹ đều cảm thấy lo lắng và mệt mỏi vì bé thức dậy ban đêm và khóc. Tuy nhiên, nhờ tiếng khóc mà trẻ có thể tự điều chỉnh giấc ngủ hợp lý hơn.
Khi nuôi con nhỏ, điều các bà mẹ ước ao nhất là mong con không quấy khóc, không tỉnh dậy giữa đêm để có thể ngủ liền một mạch từ tối đến sáng. Tuy nhiên, đây là điều... hoang đường. Mọi đứa trẻ đều thức giấc ban đêm hoặc để bú, hoặc để khóc. Và điều này là biểu hiện hoàn toàn tốt.
Các nhà nghiên cứu người Australia đã đưa ra một phương pháp có tên gọi Feber (đặt theo tên của chuyên gia về giấc ngủ ở trẻ em Richard Ferber), có nghĩa là: Tiếng khóc có kiểm soát. Nguyên tắc của phương pháp là khi cha mẹ thấy trẻ khóc đêm thì không nên can thiệp ngay mà cần đợi một thời gian rồi mới tới vỗ về bé. Điều này sẽ giúp trẻ học cách tự ru mình.
Phương pháp này được tổng kết sau khi tiến hành nghiên cứu 156 bà mẹ có con ở độ tuổi từ 6 tháng đến 1 năm hay khóc đêm. Họ được chia ra làm hai nhóm: Nhóm 1 được học cách kiểm soát tiếng khóc của trẻ và các kỹ năng khác về giâc ngủ theo phương pháp Feber; Nhóm 2 không được luyện tập gì.
Sau 2 tháng, những đứa trẻ ở nhóm 1 cải thiện được rất nhiều những trục trặc về giấc ngủ và các bà mẹ cũng cảm thấy đỡ mệt mỏi hơn.
Tiến sĩ Kuhn - một thành viên của nhóm nghiên cứu nói rằng, phần lớn các bé đều học được cách tự trấn an mình mà không cần tới sự giúp đỡ của cha mẹ trong vòng chưa tới 1 tuần. Ý tưởng của phương pháp Feber là làm cho trẻ yên tâm rằng có bạn ở bên cạnh, nhưng không gây hứng thú cho trẻ bằng cách vuốt ve, bế rung hay hát ru. Hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy những đứa trẻ được bỏ cho khóc sẽ bị tổn thương".
Đây là biện pháp rất có hiệu quả. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng tình nó vì hầu hết cha mẹ đều không thể ngồi im nhìn con khóc mà không dỗ dành.
Một vài nét về kỹ thuật Feber (Áp dụng cho trẻ có trục trặc giấc ngủ về đêm khi lên 6 tháng tuổi):
-Tạo thói quen cho bé đi ngủ sớm và đúng giờ.
- Khi bé bắt đầu khóc, hãy đợi 1-2 phút trước khi tới để vỗ về. Đụng chạm và nói chuyện với bé càng ít càng tốt. Đừng bế bé dậy và cũng đừng bật đèn.
- Rời khỏi phòng khi bé thôi khóc. Lần sau, nếu bé lại khóc, hãy đợi 3-4 phút, và lần tiếp theo thì đợi 5-6 phút. Nhớ là không bế bé dậy và không bật đèn.
Tiếp tục bài tập này cho tới khi bé ngủ thiếp đi. Một số phụ huynh có thể đợi tối đa 10 phút trước khi bước vào phòng con, nhưng có người có thể đợi được 15 phút và lâu hơn.
Theo Health và Tạp chí CNMS
Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011
Chăm sóc bà mẹ sau khi sinh (4 bài)
Bài 1. Cách chăm sóc phụ nữ sau khi sinh
6 giờ đầu sau đẻ thời gian dễ có biến chứng chảy máu nên sản phụ cần được cán bộ y tế chăm sóc, theo dõi. Thời gian này, sản phụ nghỉ tuyệt đối tại giường, ăn thức ăn dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng, uống nước hoa quả để bổ sung vitamin, chất khoáng.
Thời gian cần thiết để cơ quan sinh sản hồi phục về cấu trúc và chức năng là 45 ngày. Sau đẻ 4-6 tháng, sức khỏe người mẹ mới coi là ổn định để có thể làm việc như trước. Muốn được như vậy, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vệ sinh sau đẻ, nghỉ ngơi, vận động và ăn uống. Khi đã hết nguy cơ chảy máu, sản phụ có thể vận động nhẹ nhàng giúp cho sự lưu thông sản dịch được dễ dàng, tránh ứ đọng, gây nhiễm khuẩn cơ quan sinh sản, tránh biến chứng viêm tắc tĩnh mạch sâu.
Nhu cầu về ăn uống: Tổng số calo cần bảo đảm khi cho con bú là 2.300-2.500 calo cho các bà mẹ sinh một con; 2.600-3.000 calo nếu sinh đôi. Vẫn nên tiếp tục ăn uống có chất lượng như khi đang có thai, đa dạng và cân đối. Chế độ ăn cân đối để phục hồi sức khỏe và giúp cho quá trình tạo sữa được tốt. Ăn bao nhiêu là đủ phụ thuộc vào sự ngon miệng, do đó nên ăn theo khẩu vị. Những loại thực phẩm sau đây có giá trị dinh dưỡng: thịt, hạt (đậu đỗ), các loại rau xanh, hoa quả (hoặc nước vắt chứ không phải nước hoa quả đóng chai), cơm, bánh mỳ, sữa, trứng, pho mai.
Chế độ ăn cũng cần đảm bảo đủ vi chất như sắt, kẽm, magiê, vitamin D, vitamin E và folic acid. Kẽm có trong thịt, trứng và ngũ cốc. Magiê có trong ngũ cốc, đậu đỗ, quả hạch. Vitamin E có trong mầm lúa mỳ, quả hạch, ngũ cốc và nhiều loại dầu. Thịt, trứng, bánh mỳ, ngũ cốc và mầm lúa mạch đều chứa nhiều chất sắt. Nhu cầu canxi khi cho con bú là 1,250mg (tương đương với khoảng một lít sữa tách bơ hay sữa đậu nành).
Cung cấp đủ lượng dịch: gồm nước và các loại dịch khác (nước vắt hoa quả, cháo loãng, sữa không kem...). Lượng dịch tổng thể từ 2-2,5 lít/ngày. Nếu các bà mẹ thấy nước tiểu của mình sẫm màu, cần tăng thêm lượng dịch uống.
Vận động: Tránh vận động nhiều, ít nhất là 6 tuần lễ sau đẻ. Trước khi vận động, nên làm cho hai bầu vú hết sữa vì vận động mạnh hai cánh tay có thể làm dòng sữa tiết ra. Tránh vận động thể thao nặng trong 2 tháng đầu sau đẻ vì dễ có nguy cơ gây chấn thương cho khớp. Bơi có lợi vì khớp, vú và sàn chậu được nước nâng đỡ.
Vệ sinh: Sau 3 ngày kể từ khi đẻ, sản dịch chỉ còn màu hồng, sau 10 ngày chỉ còn dịch vàng. Chỉ cần rửa ngoài bằng nước và xà phòng, không rửa sâu vào âm đạo. Ngày rửa 2 lần là đủ, kể cả khi có vết khâu tầng sinh môn. Tắm ở nơi ấm áp, kín gió không chống chỉ định sau đẻ.
Nên kiêng những gì?
- Không có căn cứ khoa học nào để kiêng tôm, cua, cá - những thứ có nhiều vi chất (kẽm, iod, canxi...), chỉ tránh khi gây dị ứng hay rối loạn tiêu hóa cho người ăn.
- Tránh hay hạn chế cà phê: vì nhiều quá làm cho trẻ quấy nhiễu.
- Rượu và đồ uống có độ cồn: nếu dùng đồ uống có độ cồn thì nên cho bú trước đã, sau khi uống rượu cũng cần phải đợi 1-2 giờ mới cho bú lại.
- Tránh hút thuốc lá: chất nicotin và các sản phẩm giáng hóa của nó có thể đi vào sữa và có thể làm cho trẻ tăng nhịp tim, quấy khóc, nôn và tiêu chảy, còn ảnh hưởng đến sự thèm ăn và ngon miệng của mẹ. Hút thuốc lá chủ động hay bị động (ngửi khói thuốc lá) có thể tăng nguy cơ trẻ bị hội chứng đột tử và tăng nhiễm khuẩn đường hô hấp và tai, dù trẻ được nuôi dưỡng bằng cách nào. Thuốc lá còn có thể ảnh hưởng đến sự xuống sữa (phản xạ tiết sữa) và có thể giảm lượng sữa.
- Tránh một số gia vị gây kích thích và tiết qua sữa: hành, tỏi, ớt, hồ tiêu.
- Kiêng quan hệ tình dục trong vòng 45 ngày sau đẻ. Sau thời gian đó, có thể sinh hoạt khi cả hai vợ chồng đều cảm thấy cần thiết.
Những dấu hiệu cần thông báo ngay cho bác sĩ?
Có nhiều vấn đề cần thông báo cho thầy thuốc, kể từ nhẹ đến nghiêm trọng:
- Đau vùng tầng sinh môn: có thể kéo dài 1-2 tháng.
- Bí đái hay không kìm giữ được nước tiểu: thường được chữa trị bằng châm cứu.
- Đau vùng thắt lưng, đau các cơ bụng kéo dài: gây hạn chế vận động.
- Rối nhiễu xúc cảm và tâm trí sau đẻ: thể hiện bằng trạng thái buồn tủi sau đẻ. Hay gặp ở phụ nữ sinh con đầu lòng, thường hồi phục sau 3 tuần. Trầm cảm sau đẻ kéo dài hơn.
- Sốt kéo dài sau đẻ: có thể do nhiễm khuẩn tầng sinh môn và nhất là viêm tử cung, có thể tiến triển thành viêm phần phụ và viêm tiểu khung.
- Nhiễm khuẩn sinh dục sau đẻ: sốt kéo dài sau đẻ, do nhiễm khuẩn tầng sinh môn và nhất là viêm tử cung, có thể tiến triển thành viêm phần phụ và viêm tiểu khung.
- Sản giật sau đẻ: có thể xảy ra vài giờ sau đẻ nhưng cũng có khi muộn, nhiều ngày sau đẻ. Những dấu hiệu cần cảnh giác cũng vẫn là mỏi mệt, nhức đầu, phù hai chi dưới kéo dài, huyết áp cao trên 140/90, đái ít dưới 500ml/24 giờ, protein trong nước tiểu vẫn cao trên 0,5/l, vì thế sau đẻ vẫn cần theo dõi chặt chẽ. Cũng có khi sản giật sau đẻ xảy ra mà không có dấu hiệu báo trước. Biến chứng đáng lo ngại nhất là xuất huyết não, tổn thương thận gây bệnh thận mạn tính.
- Sưng nề chi dưới, đau, da lạnh, tím tái. Thường do huyết khối tĩnh mạch sâu ở cẳng chân: vận động sớm là biện pháp phòng ngừa tốt nhất.
- Khó thở, đau ngực, tím tái: cần khẩn cấp đưa đến bệnh viện.
BS. Đào Xuân
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Nguồn : http://www.hocvieniq.com/NewsDetail.aspx?id=2078
Bài 2. Chăm sóc bà mẹ sau khi sinh
Chăm sóc vú: Khi mang thai ở 3 tháng cuối, thai phụ đã bắt đầu có sữa non. Tuy nhiên trước tuần thứ 37, thai phụ không nên nặn hay tác động nhiều vào bầu ngực vì có thể gây co bóp dạ con, dẫn đến nguy cơ sinh sớm.
Sau 37 tuần, thai phụ có thể lấy hai ngón tay vê kéo đầu vú, mát-xa vuốt theo chiều từ trên xuống, từ ngoài vào trong rồi từ trong ra ngoài để tuyến vú co bóp và giúp cho việc tiết sữa sau này tốt hơn.
Sinh xong khoảng 2-3 ngày, thai phụ sẽ có sữa trưởng thành. Có nhiều người sẽ thấy vú cương cứng và nhầm là bị tắc tia sữa. Thực ra, hiện tượng này sẽ hết sau vài lần bé bú. Đừng vì thấy sữa mẹ chưa về mà cho bé bú chai ngay, dẫn đến sau này bé không quen bú mẹ, khiến mẹ tức sữa, con không bú và sẽ gây tắc thật. Ngoài ra, để giảm đau tức, các bà mẹ nên đứng tắm dưới vòi hoa sen, mát-xa nhẹ nhàng và bóp nhẹ ở quầng nâu của vú. Nếu đau quá, bạn có thể dùng đèn hồng ngoại chiếu mỗi bên nửa tiếng kết hợp với xoa bóp nhẹ nhàng. Nếu đau núm vú do bé bú, rứt, chị em có thể dùng núm vú giả để hỗ trợ.
Chăm sóc bộ phận sinh dục: Khi mang bầu ở thời điểm sắp sinh, dạ con to như chiếc thùng 5-10 lít. Khi sinh xong, chị em có thể sờ thấy một khối cứng ở dưới rốn (thường to bằng quả bưởi), đó chính là dạ con chưa thể co hồi lại như ban đầu. Thường khoảng sau 21 ngày hoặc muộn nhất là 1 tháng. Dạ con sẽ co lại như bình thường (nếu mổ đẻ thì sẽ mất nhiều thời gian hơn). Nếu dạ con không co chặt lại thì có thể gây băng huyết, rong máu. Để tránh điều này, người mẹ nên đi lại nhẹ nhàng và cho con bú ngay sau khi sinh.
Sau sinh, sản phụ sẽ thấy có nhiều sản dịch. Đây chính là máu ra sau sổ rau. Thường trong giờ đầu sau đẻ, lượng máu có thể lên đến 100ml nên sản phụ cần được đóng bỉm to, những ngày sau đó có thể dùng băng vệ sinh bình thường và nên thường xuyên thay rửa. Nếu thấy lượng máu ra quá nhiều, quá nhanh, sản phụ cần báo ngay cho bác sĩ để tránh nguy cơ bị băng huyết. Nếu sinh xong, sản phụ thấy rất ít hoặc không có sản dịch thì cũng nên lưu ý bởi nếu dịch không thoát ra được, tử cung khó co lại dễ gây nhiễm trùng hậu sản, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng huyết. Để tránh điều này, các bà mẹ sau khi sinh cần nằm bất động trên giường trong khoảng 8-10 giờ (đối với người sinh mổ, cần nằm bất động 24 giờ), sau đó nên đi lại nhẹ nhàng. Tiếp sau đó dần dần sản phụ cần ngồi dậy từ từ, hít thở sâu, nhắm mắt rồi chậm rãi đưa chân xuống đất trước khi đứng thẳng dậy. Nếu thấy chóng mặt, sản phụ cần nằm xuống để máu lưu thông lên não đề phòng bị choáng ngất, bị ngã.
Đặc biệt, sản phụ nên tránh bị táo bón bằng cách ăn nhiều rau, trái cây, uống nhiều nước. Trong trường hợp bị trĩ, sản phụ có thể dùng thuốc bôi để đỡ đau. Ngoài ra, ngay sau khi sinh người mẹ có thể tập khít cơ niệu đạo, cơ âm đạo để tránh bị són tiểu sau này bằng cách: Khi thở hít vào thì co khít cơ âm đạo, lúc từ từ thở ra thì đồng thời giãn cơ âm đạo hoặc luyện tập giống như khi đang đi tiểu thì nhịn lại 1-2 giây rồi thả ra, lặp lại vài lần như vậy. Trong trường hợp bị bí tiểu, sản phụ có thể chườm nóng, tắm nước nóng, day ở vùng xương mu, xoa nắn bụng...
Sau 3 tuần hết sản dịch, có người đã có máu trở lại (gọi là kinh non) lúc này cần sử dụng ngay các biện pháp tránh thai. Việc có thai lại sớm rất nguy hiểm với người mổ đẻ, có thể gây nứt sẹo mổ, vỡ dạ con, mất em bé, hại cho mẹ.
Sau sinh, các bà mẹ cũng cần chú ý đến vết khâu tầng sinh môn bằng cách rửa sạch, giữ khô, nếu dùng dung dịch vệ sinh, nên dùng loại có bọt, có thể dùng máy sấy làm khô. Nếu sau 4 ngày sản phụ không thấy giảm đau, nhức thì có thể đã bị dị ứng chỉ khâu, nên đến bác sĩ để được cắt chỉ sớm hoặc xử lý nếu bị nhiễm trùng. Thường sau một tuần, vết khâu tầng sinh môn sẽ liền hẳn.
Tùy cơ thể từng người, chị em có thể tắm gội vài ngày sau sinh nhưng không nên tắm bồn. Nếu mệt, không nên tắm và gội liền một lúc và chớ cúi lom khom sẽ dễ gây chóng mặt, ngã qụy... Chị em cần được ngủ đủ, nghỉ ngơi hợp lý và sống trong không khí yêu thương chăm sóc của gia đình.
Về dinh dưỡng: Sau khi sinh, các bà mẹ thường bị mất máu nhiều nên cần được bồi dưỡng, ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng. Sản phụ không cần phải kiêng khem bất cứ thứ gì, nhưng nên ăn thức ăn dễ tiêu, tránh ăn nhiều các gia vị như ớt, hạt tiêu..., không uống bia, rượu vì sẽ ảnh hưởng đến tiết sữa, hạn chế đồ lạnh, hải sản lạnh trong 6 tuần đầu sau sinh. Để có đủ sữa, ngoài việc tích cực cho con bú, các bà mẹ nên uống đủ 3 lít nước mỗi ngày (bên cạnh nước lọc có thể uống nước nhân trần, sữa đậu nành, nước hoa quả, sữa...).
Nguồn: http://suckhoedoisong.vn/1656p45c51/cham-soc-ba-me-sau-khi-sinh.htm
Bài 3. Các vấn đề sức khoẻ cần lưu ý sau khi sinh cho mẹ và cho bé
Do sức ép của tử cung lúc rặn đẻ, đầu bé có thể hơi biến dạng nhưng sẽ trở lại bình thường sau 2 tuần
Vậy là mẹ và bé đã gặp nhau sau bao tháng ngày mong đợi. Tình thương của mẹ dành cho bé giờ lại càng đầy ắp và được cụ thể hoá hơn qua việc chăm bẵm cho bé từng miếng ăn, giấc ngủ.
Thể trạng của bé khi mới chào đời: Do sức ép của tử cung lúc rặn đẻ, đầu bé có thể hơi biến dạng nhưng sẽ trở lại bình thường sau 2 tuần. Tay và chân có sắc xanh do hệ tuần hoàn chưa hoạt động thích nghi. Những đốm đỏ hay những vết sần sùi xuất hiện trên da là bình thường và sẽ biến mất sớm. Lúc mới sinh, ruột bé chứa một chất màu sậm, dính gọi là phân su. Sau khi bú, phân sẽ đổi màu. Mẹ nên cho bé bú theo nhu cầu, không nên canh theo giờ, cũng không nên để bé ngủ quá lâu trên 4 giờ mà chưa đậy bú.
Dinh dưỡng cho mẹ: Qua hành trình vượt cạn, mẹ mất nhiều máu, mệt mỏi do co hồi dạ con nên ăn uống không ngon miệng ngay được. Cung cấp năng lượng cho mẹ bằng thức ăn loãng, hấp thu nhanh và dễ tiêu hoá. Một ngày sau sanh, mẹ có thể ăn uống trở lại bình thường.
- Sữa mẹ chứa 80 –90% là nước nên mẹ phải uống nhiều nước, tốt nhất là sữa tổng hợp dưỡng chất thiết yếu cho bé và thức ăn loãng.
- Ăn thức ăn có đầy đủ chất đạm, vitamin, muối khoáng… Ăn quá nhiều gia vị làm ảnh hưởng mùi vị sữa mẹ, bé sẽ chê sữa mẹ. Ăn quá mặn sẽ gây phù, cao huyết áp, nguy hiểm cho sức khoẻ của mẹ.
- Không nên kiêng khem nếu mẹ thấy ngon miệng, cần ăn nhiều rau, trái cây để chống táo bón.
Lưu ý: Nếu mẹ bị lở đầu vú, đầu vú nhỏ, bị tụt vào trong, có thể vắt sữa ra cốc và cho bé uống bằng thìa nhỏ. Trường hợp mẹ bị bệnh lý chống chỉ định cho con bú bằng sữa mẹ như: viêm gan, suy tim… có thể nuôi bé bằng sữa công thức. Điều chỉnh lượng sữa, số lần bé bú một ngày dựa vào sự tăng cân và chất lượng phân của bé. Nếu bé bị táo bón có thể do pha ít sữa nhiều nước. Phân loãng và có hột, bé đi tiêu trên 10 lần một ngày có thể do pha quá nhiều sữa, bé không tiêu hoá được hết. Nên chọn loại sữa phù hợp với cho từng tháng tuổi của bé./.
Theo Phụ nữ TPHCM
Bài 4. Món cháo chống táo bón sau sinh
Khi bị táo bón sau sinh, cần ăn các thức ăn mềm, những loại thực phẩm dễ tiêu.
Đông y cho rằng, sau sinh do mất máu nhiều khiến khí huyết mất thăng bằng, nước và tân dịch bị suy hao làm ảnh hưởng tới chức năng nhu động của ruột, phân chậm tống ra ngoài nên quá trình lưu lại ở ruột bị đại tràng hút kiệt nước, phân rắn lại mà sinh táo bón. Lúc này sản phụ thường biểu hiện tình trạng âm hư hỏa vượng khiến sắc mặt không tươi nhuận, mà hanh vàng, da khô, miệng nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch lý...
Các thức ăn cần thiết lúc này là thức ăn mềm, loại thực phẩm dễ tiêu, nhiều chất cellulose như các loại rau, quả tươi (đậu bắp, khoai lang...). Lưu ý không ăn các loại thực phẩm có tính nóng kích thích như tiêu, ớt, uống cà phê, trà, rượu, hút thuốc lá... Tốt nhất là cần kết hợp chọn dùng một số món ăn bài thuốc để vừa an toàn, hiệu quả cho cả mẹ lẫn con mà chứng táo bón cũng hết.
Tùy chọn một món ăn trong số các món ăn dưới đây, dùng cho đủ số ngày từng đợt, sau đó muốn ăn tiếp thì có thể thay đổi món khác thích hợp.
Cháo khoai lang: Khoai lang 200g, nghệ vàng 10g, đường đỏ 50g. Nghệ rửa sạch giã nhỏ, khoai lang rửa thái miếng, cho cả vào nồi đổ nước vừa đủ đun cho khoai nhừ, khuấy đều thành cháo, cho đường đỏ vào để sôi lại chốc lát là được. Ngày ăn 2 lần vào lúc đói. Khi thấy đại tiện ngày 1 lần (hết táo bón) thì ngừng ăn.
Cháo mè (vừng) đen: Mè đen 30g, gạo tẻ 100g, gạo nếp 50g, thịt heo nạc 100g, dầu, gia vị vừa đủ. Xay nhỏ gạo và mè đen, thịt heo xay hoặc băm nhỏ, ướp đủ mắm muối rồi cho dầu vào xào chín. Cho gạo, mè đen đổ đủ nước vào nấu nhỏ lửa đến lúc cháo nhừ cho thịt băm đã xào vào khuấy, để cháo sôi lại là được. Ngày ăn 2-3 lần vào lúc bụng đói, cần ăn 3-5 ngày liền.
Cháo cà rốt: Cà rốt 200g, rau bắp cải 100g, gạo tẻ 100g, thịt heo nạc 100g, dầu, mắm muối vừa đủ. Cà rốt cạo sạch vỏ ngoài rồi nạo hay mài nhỏ. Bắp cải làm sạch thái nhỏ, gạo xay bột. Thịt heo nạc rửa sạch băm nhỏ ướp muối, rồi cho dầu xào chín. Cho bột gạo vào nồi đổ đủ nước, dùng lửa nhỏ đun sôi nhừ, cho cà rốt và bắp cải vào để sôi tiếp thì cho nốt thịt heo băm đã xào vào, sôi nhào là được. Ngày ăn 1 lần, cần ăn liền 3-5 ngày.
Cháo cật heo: Cật heo 1 đôi chừng 250g, gạo tẻ 100g, nghệ vàng 10g, mắm muối vừa đủ. Giã nhỏ nghệ sau khi rửa sạch, cật heo làm sạch, thái miếng ướp mắm muối, nghệ, để 10 phút thì cho vào kẹp nướng chả để trên than hồng cho chín. Cho gạo đã xay bột, đổ vừa nước, nổi lửa nhỏ đun nhừ thành cháo thì cho cật heo vào, vẫn để nhỏ lửa cho sôi chừng 10 phút nữa là được. Ngày ăn 1 lần, cần ăn 2-3 ngày.
BS Tuấn Linh - BS Minh Nguyệt
Chăm sóc trẻ sơ sinh (8 bài)
Bài 1. Bé mới chào đời
Sau bao tháng ngày mong chờ, giờ đây bé yêu của bạn đã chào đời. Bạn đã thực sự trở thành cha (mẹ)!
1. Tư thế “bào thai”
Bởi vì bé bị cuộn tròn trong tử cung mẹ đến tận lúc sinh ra, cho nên trông bé có vẻ hơi co quắp trong một thời gian ngắn, với tay và chân không được dang rộng thoải mái. Bé thậm chí trông có vẻ bị vòng kiềng.
Đừng lo lắng: Bé sẽ duỗi ra dần dần và đến khi được 6 tháng tuổi, bé hoàn toàn không còn co quắp nữa. Đồng thời, khi bé thích nghi với cuộc sống bên ngoài tử cung người mẹ, bé có thể thích được quấn trong một chiếc chăn mỏng.
2. Các phản xạ nguyên thủy
Từ lúc sinh ra bé đã có một số phản xạ: Phản xạ giật mình - phản xạ làm cho bé tự động ưỡn cong lưng, dang tay, dang chân và thỉnh thoảng khóc toáng lên khi thấy to tiếng hoặc một sự di chuyển đột ngột nào đấy. Trẻ sơ sinh có thể có phản ứng lại ngay cả khi ngủ, nhưng nó sẽ mất dần sau một vài tháng.
Những phản xạ khác của trẻ sơ sinh bao gồm: phản xạ Babinski (cong ngón cái và xoè 4 ngón còn lại khi lòng bàn chân bị va đập mạnh), phản xạ bước (bé như bước hoặc nhảy khi chân chạm vào bề mặt cứng), và phản xạ đẩy lưỡi (bé đẩy lưỡi mình ra khi bị nhét cái gì vào miệng).
3. Cố định cơn đói và giấc ngủ
Thức ăn là phần quan trọng nhất trong cuộc sống của trẻ sơ sinh, giấc ngủ là thứ hai. Hầu hết trẻ sơ sinh sẽ ăn hai hoặc ba tiếng một lần.
Giờ ngủ được chia thành các giấc một cách cân bằng và đa dạng giữa các trẻ khác nhau. Bé sẽ ngủ tổng cộng 16 đến 17 tiếng một ngày- thường chia thành 8 giấc ngủ ngắn. Để giảm nguy cơ mắc hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh, bạn phải chắc chắn cho bé nằm ngửa khi ngủ.
Cho đến cuối tháng đầu tiên, bé có thể phát triển về việc ăn và kiểu ngủ, nhưng không kiểm soát được nó. Ở thời kỳ này, bé cần được ăn bất cứ khi nào đói, trước khi bé khóc.
4. Mùi và vị
Bé đã phát triển về vị giác. Trên thực tế, trẻ sơ sinh có vẻ như có nhiều chồi vị giác hơn người lớn. Bé nhạy cảm với đồ ngọt và những vị chua cay khi mới sinh, nhưng sự phản ứng lại với vị mặn thì phải đợi đến khi bé được 5 tháng.
Bé dùng khứu giác ngay từ đầu và có thể đánh mùi được: chú ý đến cách bé quay đầu khi bé gửi thấy mùi khó chịu (giống như là mùi bỉm bẩn của bé).
Những nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ sơ sinh 5 ngày tuổi sẽ quay về hướng miếng gạc có tẩm sữa mẹ, chúng có thể ngửi được mùi đó và vài ngày sau chúng tỏ ra thích thú với mùi của sữa mẹ. Nhờ sử dụng khứu giác, bé có thể ngọ nguậy về phía vú của bạn.
5. Những cử động bản năng
Phản xạ gốc (rooting reflex) - một phản xạ khác mà bé có khi mới sinh ra - giúp cho bé tìm được vú mẹ và biết cách bú. Khi bạn chạm vào má, môi, hay miệng của bé với ngón tay hoặc núm vú, bé sẽ quay mặt lại và há miệng ra tìm vú, khi tay bạn di động, miệng bé sẽ di động theo.
Bạn sẽ thấy bé tự động bắt đầu những cử động bú bằng miệng. Bé đang cho thấy bé biết cách ăn đấy chứ! Bây giờ bạn thử đặt ngón tay vào vòm miệng của bé và xem bé sẽ bắt đầu bú như thế nào?
Theo mangthai.vn
Bài 2. Cách tắm cho trẻ sơ sinh
Với các bạn gái mới lần đầu làm mẹ, tắm cho trẻ sơ sinh hẳn là một công việc đầy khó khăn và vất vả. Nhưng với những bà mẹ kinh nghiệm cho rằng, một khi bạn nắm được kỹ thuật "khống chế" được đầu và cổ của bé thì việc tắm cho con lại là một hình thức thư giãn "gây nghiện".
Tại sao vậy? Bạn cứ thử xem, đứa trẻ sau khi được tắm táp "ngon lành", chúng thật thơm tho, sạch sẽ, và "sản phẩm" tuyệt hảo ấy là do chính bạn làm ra.
Bạn nên lưu ý một số điều sau đây khi tắm cho trẻ sơ sinh:
Bạn có thể tắm cho trẻ vào bất cứ thời gian nào trong ngày. Nhưng trẻ thường ngủ sau khi được tắm (như là một hình thức thư giãn), vì vậy tốt hơn hết bạn hãy tắm trẻ vào khoảng thời gian trước khi bé ngủ.
Ðừng bao giờ tắm vào lúc trẻ đói bụng. Nó sẽ khóc lóc, quẫy đạp lung tung. Và cũng không nên tắm khi mới vừa cho chúng ăn no xong, bỡi vì những cử động mạnh sẽ dễ làm trẻ bị ộc thức ăn.
Ðể bé cảm thấy thoải mái, bạn nên tắm cho trẻ ở những nơi ấm áp, kín đáo, tránh gió lùa. Tắm cho trẻ sẽ dễ dàng hơn với tư thế đứng ở một chậu tắm cao vừa phải (cỡ đến ngực là vừa).
Chuẩn bị đầy đủ mọi thứ trước khi tắm cho trẻ: sữa tắm, dầu gội đầu, nước thơm (lotion) và mọi thứ cần thiết. Xem nhiệt độ của nước có đủ độ nóng chưa, nước sẽ vừa phải với nhiệt độ khoảng 36,5 độ là được. Cho vài giọt sữa tắm vào chậu rồi khuấy đều lên...
Sau đây là 8 bước cụ thể để tắm cho con bạn:
Bỏ hết quần áo trẻ, trừ tã lót. Quấn trẻ trong khăn tắm trong khi bạn lau mặt và đầu của trẻ.
Dùng bông sạch thấm vào nước cho mềm để lau mắt cho trẻ, bắt đầu lau từ phía đầu mắt đến đuôi mắt. Bạn nên sử dụng hai miếng bông khác nhau cho mỗi mắt để tránh nhiễm trùng.
Rửa phần còn lại của mắt, mũi, sau cổ và tai với một chiếc khăn thật mềm.
Muốn gội đầu cho bé, bạn hãy giữ trẻ thật vững bằng cách để người bé tì vào bạn, đầu trẻ cao hơn chậu nước tắm, tay đỡ dưới gáy và cổ trẻ. Dùng tay còn lại xoa đầu vào tóc trẻ, nhớ là phải xoa thật nhẹ nhàng, tuyệt đối không gãi và cào. Gội lại bằng nước sạch, lau cho thật khô tóc bằng khăn sạch.
Bỏ tã ra, đặt trẻ vào trong chậu nước, một tay đỡ cổ và vai trẻ, té nước nhẹ nhàng xoa khắp người trẻ. Nếu thích, bạn có thể dùng chiếc khăn mềm thay vì dùng tay. Sau khi tắm xong phần trước, bạn hãy xoay trẻ lại và tắm lưng cho trẻ. Nhớ tắm rửa thật kỹ mông và bộ phận sinh dục...
Nhấc trẻ ra khỏi chậu tắm và đặt vào một chiếc khăn to, khô. Thấm khô trẻ từ cổ trở xuống. Phải nhớ lau khô phần dưới cằm, nách, và các kẽ tay, chân.
Nên làm sạch rốn bằng cồn và tăm bông mềm. Lau sạch xung quanh rốn. Ðừng ngại trong việc vệ sinh cuống rốn cho bé. Khó có sự nhiễm trùng vì cuống rốn sẽ tự rụng từ 6 đến 10 ngày sau.
Mặc tã sạch và quần áo sạch vào cho trẻ. Bạn có thể chải tóc cho trẻ bằng lược mềm.
Thế đấy, tắm cho trẻ cũng đâu phải dễ dàng, nhưng nếu biết cách, chẳng mấy chốc bạn sẽ nghiện vì thích! Bạn hãy thử xem...
Một số vật dụng cần có trước khi tắm cho trẻ:
Chậu tắm bằng nhựa
Khăn mặt và khăn tắm, bạn nên chọn loại 100% là cotton.
Sữa tắm
Bông lau mặt
Tăm bông
Cồn
Quần áo sạch, tất, găng tay...
Một cái chén nhỏ để đựng nước nhúng ướt bông lau mắt cho bé.
Phấn thơm, nước thơm thoa sau khi tắm.
Theo Thế giới Phụ nữ
Bài 3. Chăm sóc rốn trẻ sơ sinh
Cha mẹ, đặc biệt là các cha mẹ trẻ, thường rất lo lắng về cách chăm sóc rốn cho trẻ mới sinh. Lời khuyên quan trọng nhất là giữ cuống rốn khô và sạch cho đến khi rốn rụng.
Dây rốn
Dây rốn nối bào thai với bà mẹ qua bánh nhau từ tuần lễ thứ sáu của thai kỳ cho đến lúc sinh. Là con đường sống, dây rốn cung cấp oxy, chất bổ dưỡng cho bào thai phát triển, và mang đi các chất thải trong bào thai. Lúc sinh, bởi vì trẻ sơ sinh có khả năng thở, bú và tiêu tiểu nên dây rốn trở nên không cần thiết, vì vậy, nó được kẹp và cắt ngay sau sinh.
Điều quan trọng là chăm sóc đúng cách phần cuống rốn còn lại này cho đến khi cuống rốn lành và rụng - thường khoảng hai tuần sau sinh. Cuống rốn sẽ đổi màu từ màu vàng xanh sang màu đen khi khô teo.
Cần chăm sóc đúng cách phần cuống rốn còn lại này cho đến khi cuống rốn lành và rụng.
Tự chăm sóc rốn tại nhà
Trong ngày đầu sau sinh, thường sau khi tắm bé, nhân viên y tế bôi dung dịch sát trùng lên cuống rốn để giảm nguy cơ nhiễm trùng.
24 giờ sau sinh, khi mặt cắt rốn khô, có thể tháo kẹp rốn an toàn khỏi cuống rốn. Nên tháo kẹp rốn tại bệnh viện, trước khi trẻ sơ sinh được xuất viện về nhà. Kẹp rốn có thể cản trở trong khi thay tã tại nhà và có thể bị kéo giật lên, gây tổn thương chân rốn.
Các bác sĩ cho phép che phủ rốn bằng một lớp gạc vô khuẩn không gòn trong 1 - 2 ngày đầu. Có nhiều nghiên cứu cho thấy bôi dung dịch cồn 700 lên rốn mỗi ngày có thể làm chậm rụng rốn. Cần theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
Giữ cho cuống rốn khô, để hở, cho phép cuống rốn tiếp xúc với không khí giúp cuống rốn mau khô. Quấn tã phía dưới rốn. Sau khi trẻ tiêu, tiểu cần thay tã ngay.
Khi rốn chưa rụng, tránh không đặt trẻ vào thau tắm. Dùng khăn nhỏ mềm lau người trẻ, sau khi lau người trẻ, dùng que gòn lau chân rốn trẻ.
Khi rốn rụng, có thể nhúng trẻ vào thau tắm.
Một ít máu khô dính ở chân rốn có thể bình thường.
Khi nào mang trẻ đi khám
Khi trẻ sơ sinh sốt cần mang trẻ đi khám ngay. Có một số tình huống bệnh liên quan đến rốn cần mang trẻ đi khám:
Nhiễm trùng rốn: nếu bạn thấy dấu hiệu đỏ, nóng, sưng hoặc ấn đau vùng da quanh rốn, hoặc có nhiều dịch tiết quanh chân rốn, đặc biệt có mùi hôi, cần mang trẻ đi bệnh viện khám ngay. Đây là trường hợp trẻ bị nhiễm trùng rốn và vùng da quanh rốn, có thể nguy hiểm, cần được điều trị tại bệnh viện.
U hạt rốn: nếu bạn thấy chân rốn rỉ dịch vàng kéo dài, không kèm dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, hoặc ấn đau vùng da quanh rốn, trẻ không nóng sốt, có thể trẻ bị u hạt rốn. Tại bệnh viện, u hạt rốn được điều trị với nitrate bạc.
Rỉ máu rốn kéo dài: nếu bạn thấy chân rốn rỉ máu nhiều và kéo dài, có thể là dấu hiệu của bệnh lý đông máu, cần đi khám bác sĩ.
ThS.BS. CAM NGỌC PHƯỢNG
Bài 4. Những biểu hiện không đáng lo lắng ở trẻ sơ sinh
Một số biểu hiện thở không đều, ngạt mũi nhẹ, sưng tuyến vú... ở trẻ sơ sinh thường khiến cha mẹ lo lắng. Thực chất vấn đề không nghiêm trọng đến vậy:
Thở không đều trong khi ngủ
Lồng ngực của trẻ sơ sinh thường nhỏ, do vậy, quá trình trao đổi khí thường ít hơn. Số lần hô hấp bình thường ở trẻ sơ sinh là 40-50 lần/phút. Ngoài ra, hệ thần kinh của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh, nên nhịp thở của trẻ cũng không đều, đặc biệt là trong khi ngủ.
Nôn trớ
Đối với trẻ mới sinh, đây là hiện tượng sinh lý bình thường. Khi mới sinh, dạ dày bé thường nằm ngang, gần với thực quản. Do vậy, sau mỗi lần bú mẹ hoặc uống sữa, chỉ cần một vài cử động mạnh là bé có thể bị nôn trớ.
Để hạn chế hiện tượng này, bạn nên bế dựng bé ngay sau khi bú hoặc uống sữa từ 5-10 phút và vỗ nhẹ vào lưng trẻ để trẻ ợ hơi ra ngoài.
Hắt hơi, ngạt mũi nhẹ
Đây không phải là biểu hiện của bệnh cảm cúm. Ở trẻ sơ sinh, lớp niêm mạc mũi chưa phát triển hoàn thiện, do vậy không khí bên ngoài hoặc 1 vài cặn sữa có thể gây phản xạ hắt hơi hoặc nghẹt mũi nhẹ ở trẻ. Đây chính là biểu hiện sinh lý tự vệ của trẻ, chứ không phải do bị nhiễm lạnh hoặc cảm cúm.
Ra mồ hôi chân, tay
Nhiệt độ trong bụng mẹ rất lý tưởng và ổn định cho sự phát triển của trẻ. Ngay khi mới sinh, sự thay đổi nhiệt độ ngoài môi trường sẽ có tác động rất lớn đến quá trình hô hấp và bài tiết của cơ thể trẻ.
Khi nhiệt độ môi trường cao, trẻ sẽ điều hòa thân nhiệt bằng cách thoát mồ hôi. Do vậy, các mẹ nên chú ý lau khô người cho trẻ, giữ nhiệt độ trong phòng ổn định.
Nhiều tóc hoặc ít tóc
Số lượng và màu tóc của trẻ sơ sinh có liên quan chặt chẽ tới chế độ dinh dưỡng của mẹ trong quá trình mang thai cũng như các yếu tố di truyền của gia đình. Do vậy, nếu khi sinh ra, trẻ ít tóc hoặc màu tóc không đen thì bạn cũng chớ nên lo lắng.
Nếu thấy tóc trẻ quá ít, kèm theo đó là các hiện tượng như đổ mồ hôi nhiều, hay hoảng sợ khi ngủ, ngủ ít, bỏ ăn… thì bạn nên cho trẻ đi khám bác sỹ để có được lời khuyên hợp lý. Vì khi đó, rất có thể trẻ đang bị thiếu canxi, thiếu sắt hoặc thiếu máu.
Sưng tuyến vú
Bất luận là trai hay gái, trẻ sau 3-5 ngày sinh thường xuất hiện nốt nhỏ như hạt đậu, sờ vào thấy mềm và bóp nhẹ có thể ra sữa. Điều này là do ảnh hưởng từ nội tiết tố estrogen của mẹ. Hiện tượng này sẽ mất sau 2-3 tuần.
Bạn không nên lo lắng và vệ sinh cho trẻ bằng cách bóp mạnh vào tuyến vú của trẻ. Điều này có thể gây sưng hoặc nhiễm trùng, ảnh hưởng tới sự phát triển tuyến vú của trẻ trong tương lai.
Chảy máu âm đạo ở bé gái
Một số bé gái sau khi sinh 1 tuần, ở âm đạo có thể chảy một ít máu hoặc chất nhầy màu trắng do thai nhi vẫn chịu ảnh hưởng nội tiết tố của người mẹ và nội mạc tử cung đã bắt đầu phát triển.
Trong giai đoạn này, cần giữ vệ sinh âm đạo cho trẻ thật sạch để tránh nhiễm trùng.
Theo Dân trí
Bài 5. Chọn tư thế ngủ tốt nhất cho trẻ sơ sinh
Nếu nghĩ: ngủ ở tư thế nào cũng không quan trọng, cốt sao bé ngủ ngon, thì bạn sai rồi đó! Tốt nhất là nên để bé ngủ ở tư thế nằm ngửa, vì tư thế nằm này toàn bộ các phần cơ trên cơ thể bé đều được thả lỏng, áp lực lên nội tạng của bé như tim, dạ dày, đường ruột và bàng quang là rất ít.
1.Nằm sấp
Ở các nước phương Tây, các bác sỹ nhi khoa thường khuyên các bậc phụ huynh không nên cho con mình ngủ ở tư thế nằm sấp. Bởi vì trẻ nằm sấp ngủ có nguy cơ đột tử cao hơn ở tư thế bình thường. Tuy nhiên tư thế ngủ không phải là nguyên nhân duy nhất gây nên đột tử, nhưng ở một mức độ nào đó nó cũng có liên quan. Là do ở giai đoạn này trẻ vẫn chưa có khả năng tự mình nhấc nổi đầu hay tự trở mình cho nên nằm ngủ ở tư thế này rất dễ khiến trẻ bị ngạt thở.
Ngoài ra, tư thế nằm sấp khi ngủ còn khiến cho phần nội tạng của bé bị chèn ép, rất bất lợi cho sự phát triển của bé.
2. Nằm nghiêng
Nếu như các bậc cha mẹ muốn cho hình dáng đầu của con mình tròn thì bạn có thể thử cho con nằm ngủ ở tư thế nghiêng. Bình thường thì bé rất khó có thể tự mình nằm nghiêng, bạn có thể để chèn thêm chăn để đỡ ở phía sau lưng giúp bé duy trì được tư thế ngủ này. Khi bé ngủ ở tư thế nghiêng bạn nên đặt tay của bé về phía trước mặt. Có như vậy khi bé bị lật sẽ vẫn ở tư thế nằm nghiêng mà không thể trở thành tư thế nằm sấp được.
3. Nằm ngửa
Tốt nhất là nên để bé ngủ ở tư thế nằm ngửa, vì tư thế nằm này toàn bộ các phần cơ trên cơ thể bé đều được thả lỏng, áp lực lên nội tạng của bé như tim, dạ dày, đường ruột và bàng quang là rất ít.
Những em bé có thói quen nằm ngủ ở tư thế ngửa này phần lớn thường bị bẹp đầu. Có rất nhiều các bậc cha mẹ lo sợ con mình bị bẹp đầu nên đã thay đổi thói quen về tư thế ngủ của con. Các bác sỹ khuyên rằng: Nếu bạn nuốn cải thiện hình dáng đầu cho bé, bạn có thể bắt đầu dần dần từ tư thế nằm nghiêng cho con.
Sau khi đầy tháng, bé lúc này đã có thể đủ sức để quay phần đầu. Thường thì sau khi bé ngủ được 1 tiếng bạn sẽ thấy đầu bé chuyển ra khỏi gối rồi, cho nên các mẹ cần chú ý hơn cho giấc ngủ của bé để tránh hiện tượng đầu bé trượt ra khỏi gối mà phát sinh sự cố ngoài ý muốn. (XL)
Bài 6. Kinh nghiệm tắm cho trẻ sơ sinh
Việc tắm cho trẻ sơ sinh tưởng như đơn giản nhưng không phải bố mẹ nào cũng biết cách, phải kiêng cữ ra sao, có nên dùng xà phòng tắm hay không, tắm sau sinh như thế nào… tất cả đều cần phải học mới có thể biết rõ.
- Trước khi tắm cho bé, người tắm cần bỏ các vật cứng trên người có thể cọ vào làn da bé. Rửa tay thật sạch bằng xà phòng. Lưu ý không nên tắm bé khi bé quá no hoặc quá đói.
- Nước tắm của bé nên có nhiệt độ khoảng 36 độ C, vừa đủ ấm. Nhiệt độ trong phòng khoảng 27 - 28 độ. Nước tắm cần đẩy để có thể nhúng cả người bé ngập trong nước.
- Khi rửa mặt và gội đầu cho bé, vẫn nên mặc cả áo và khăn quấn. Dùng khăn xô lấy nước lau nhẹ nhàng mắt, mặt, tai của bé.
- Gội đầu cho bé nên dùng đầu ngón tay xoa nhẹ nhàng, xoa kĩ cả phần thóp của bé vì đây là nơi hay đọng chất bẩn. Không nên dùng móng tay gãi đầu bé vì sẽ làm bé đau hoặc xước da.
- Sau khi rửa mặt và gội đầu sạch sẽ mới bỏ áo, tã và nhẹ nhàng nhúng cả người bé vào nước. Việc thay đổi môi trường ban đầu sẽ làm bé hơi sợ và khóc, nhưng sau đó sẽ nín ngay. Lấy một cánh tay đỡ cổ và đầu trẻ. Không đổ trực tiếp dầu tắm lên da bé mà nên qua một lớp khăn xô ấm. Nhẹ nhàng lau sạch cơ thể bé, đặc biệt lưu ý các kẽ như nách, cổ, bộ phận sinh dục.
- Lật nhẹ người bé sấp xuống, vệ sinh phần lưng. Tháo bỏ băng rốn và rửa sạch những phần còn lại.
- Nhanh chóng lau khô người bé, quấn bé trong chăn thật ấm. Lau khô đầu, mặc áo xong, sau đó vệ sinh rốn bằng cồn và băng rốn. Đóng bỉm, quấn tã cho bé. Bé sẽ cảm thấy rất dễ chịu sau khi tắm sạch sẽ. Mùa đông nên quấn bé trong chăn ấm áp.
- Lấy một ít nước muối sinh lý cho vào gạc sạch lau lợi, lưỡi và vòm miệng. Nhỏ nước muối sinh lý vào mũi, mắt bé để bé luôn thoáng sạch.
Tác giả : T.S
Nguồn: http://vtv.vn/Article/Get/Kinh-nghiem-tam-cho-tre-so-sinh------9055fcbf63.html
Bài 7. Sữa non
Sữa non (hay còn gọi là sữa đầu tiên của sự sống) là một dạng của sữa được sản xuất bởi các tuyến vú trong thai kỳ và trong vài ngày sau khi sinh. Sữa non của con người và sữa non từ bò rất đặc, dính và có màu vàng.
Ở con người, sữa non có nồng độ cao các chất dinh dưỡng và kháng thể, nhưng nó lại có số lượng nhỏ. Trong sữa non có nhiều chất carbohydrate, chất đạm, chất kháng thể, và ít chất béo (như trẻ sơ sinh của con người có thể tìm thấy chất béo khó tiêu hóa).
Trẻ sơ sinh hệ thống tiêu hóa còn nhỏ, và sữa non cung cấp chất dinh dưỡng của nó trong một hình thức khối lượng thấp rất tập trung.
Sữa non có tác dụng nhuận tràng, kích thích việc bài tiết phân cho trẻ - phân su.
Điều này giúp tiêu hao đi lượng bilirubin thừa, một sản phẩm chất thải của các tế bào máu được sản xuất với số lượng lớn (sinh ra do giảm thể tích máu) từ cơ thể của trẻ sơ sinh và giúp ngăn ngừa bệnh vàng da. Sữa non có số lượng lớn các kháng thể được gọi là "tiết globulin miễn dịch" (IgA) giúp bảo vệ màng nhầy trong họng, phổi và ruột của trẻ.
Bạch cầu cũng có mặt với số lượng lớn, chúng bắt đầu bảo vệ trẻ khỏi virus và vi khuẩn có hại.
Bé ăn sữa non sẽ thiết lập các vi khuẩn có lợi trong đường tiêu hóa. Trẻ sinh non được bú sữa mẹ sẽ cải thiện tình trạng sức khỏe tốt hơn là sử dụng các loại sữa công thức.
Trong sữa non có chứa các thành phần đặc biệt, gọi là bộ điều biến tốc độ tăng trưởng, giúp hệ tiêu hóa của bé sớm thích nghi được với các thức ăn bổ sung sau này.
Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ sơ sinh thiếu tháng có xu hướng bị nôn trớ nhiều hơn, lười ăn hơn những trẻ được ăn sữa non và sữa mẹ.
Dịch (Theo sciencedaily.com)
Bài 8. Thận trọng khi cho trẻ sơ sinh uống mật ong
Không nên cho trẻ em dưới một tuổi uống mật ong chưa được chế biến vì trong một số trường hợp, điều đó có thể dẫn tới tử vong.
Chuyên gia Viện nghiên cứu dinh dưỡng Antje Gahl khẳng định khi cho trẻ sơ sinh ăn mật ong, vi khuẩn có trong đó sẽ khu trú trong ruột và tạo ra chất độc nguy hiểm có tên Botulinumtoxin.
Không hiếm các trường hợp trẻ sơ sinh bị nghẽn đường hô hấp sau khi ăn mật ong vì độc tố Botulinumtoxin có thể cản trở quá trình truyền các xung tín hiệu tới những tế bào thần kinh, dẫn đến làm tê liệt các cơ.
Tuy nhiên, trẻ trên một tuổi ít gặp nguy hiểm hơn do ruột đã phát triển và có thể chống lại các vi khuẩn.
Ông Antje Gahl khuyến cáo các bậc cha mẹ không nên cho trẻ sơ sinh ăn mật ong và cũng không nên dùng mật ong như một phần trong thức ăn chế biến.
Nếu muốn cho trẻ sơ sinh uống nước có mật ong thì cần đun nóng để diệt vi khuẩn.
Theo TTXVN
Cho con bú (5 bài)
Bài 1. Bí quyết để có nhiều sữa sau sinh
Quan tâm tới chế độ ăn uống từ khi mang thai
Khi mang thai 6 tháng đầu, ngoài chế độ ăn như bình thường các mẹ cần ăn thêm một chén cơm và thức ăn mỗi ngày. Vào 3 tháng cuối của thai kỳ và nuôi con bằng sữa mẹ, mỗi ngày mẹ nên ăn thêm 2 chén cơm và đầy đủ thức ăn. Ngoài ra nên ăn bổ sung thêm chất đạm, vitamin, chất khoáng và yếu tố vi lượng.
Sau khi sinh điều quan trọng nhất là mẹ luôn phải ăn những đồ nóng sốt: cơm nóng, canh nóng… Chế độ ăn một ngày tốt nhất là sáng ăn xôi, trưa ăn cơm, tối ăn cơm. Ngoài ra mẹ ăn 3 bữa phụ bằng cháo đu đủ xanh nấu móng giò (hoặc chân dê, chân chó), thông thảo, ý dĩ. Uống thêm sữa hàng ngày. Mẹ cũng nên uống nhiều nước và nước phải ấm.
Điều quan trọng là tâm trạng các mẹ phải luôn thoải mái, vui vẻ, ngủ đủ và sâu giấc, nghỉ ngơi hoàn toàn trong thời gian đầu mới sinh. Nhiều mẹ thấy con quấy khóc, chưa có kinh nghiệm sinh con dễ stress sau khi sinh. Điều này cũng ảnh hưởng rất nhiều đến lượng sữa ít hay nhiều. Lúc này hãy nghĩ con là trên hết và bỏ qua tất cả mọi chuyện khác để nghỉ ngơi.
Cho con bú thường xuyên
Ăn uống đầy đủ là quan trọng nhưng nếu các mẹ không cho con bú thường xuyên thì cũng không kích thích tạo sữa được.
Để có sữa cho trẻ bú, ngay từ lúc sinh, bà mẹ nên cho trẻ bú càng sớm càng tốt trong vòng vài giờ đầu sau khi sinh, có thể lúc này sữa mẹ rất ít, chỉ chừng vài ml, nhưng trong những ngày đầu chỉ chừng đó sữa đã đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Đồng thời tác động mút vú sớm của trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh sẽ giúp cho sự tạo sữa bắt đầu.
Một điều quan trọng mà các mẹ cần nhớ là tất cả các mẹ đều có khả năng có đủ sữa cho con bú, ngay cả khi mẹ sinh đôi. Kích thước của bầu vú to nhỏ là do mô mỡ và các tổ chức khác tạo nên, dù thế nào thì số lượng mô tuyến sữa cũng như nhau nên đều có thể tạo ra nhiều sữa.
Trong trường hợp mẹ có cảm giác là mình không đủ sữa do trẻ quấy khóc hoặc không có cảm giác xuống sữa thì cũng đừng quá lo lắng. Mẹ hãy cho con bú theo nhu cầu của bé. Mẹ chỉ thực sự thiếu sữa khi trẻ có biểu hiện tăng cân ít, dưới 500mg/tháng hoặc trẻ đi tiểu ít, số lần đi tiểu ít hơn 6 lần/ngày.
Cách ngậm vú và tư thế bế cho con bú rất quan trọng
Cách ngậm vú mẹ của trẻ cũng là điều quan trọng quyết định trẻ có nhận đủ lượng sữa mẹ giúp để tăng trưởng hay không, bởi nếu trẻ ngậm vú không tốt thì dù mẹ có nhiều sữa thì trẻ vẫn không tăng cân được.
Khi bú mẹ, miệng trẻ cần há to, môi dưới cong ra ngoài và cằm trẻ chạm vào vú mẹ để ngậm được cả quầng vú chứ không phải chỉ ngậm núm vú, vì khi trẻ ngậm cả quầng vú thì miệng và lưỡi trẻ mới ép vào các xoang sữa để sữa chảy ra dễ dàng.
Bên cạnh đó, tư thế thân của trẻ cũng quan trong trọng trong việc bú mẹ một cách hiệu quả. Khi cho trẻ bú mẹ thì đầu của trẻ, thân mình và mông trẻ phải nằm trên cùng một đường thẳng và phải được nâng đỡ, đồng thời bụng bé phải áp sát với bụng mẹ, mặt trẻ phải đối diện với vú mẹ. Tất cả những điều kiện trên tạo nên một tư thế bú đúng và cách ngậm bắt vú tốt giúp trẻ bú có hiệu quả. Khi trẻ ngậm bắt vú đúng bà mẹ sẽ cảm thấy không đau ở đầu vú, cảm thấy “rần rần” khi sữa xuống, trẻ nuốt sữa nghe ừng ực và tự nhả vú khi bú xong với vẻ hài lòng, thỏa mãn.
Khi trẻ ngậm vú không đúng cách sẽ gây ra hàng loạt các hậu quả. Trước tiên là bà mẹ sẽ bị đau núm vú do trẻ chỉ bú núm mà không ngậm cả quầng vú, nếu đau núm vú kéo dài sẽ gây tổn thương núm vú, trẻ không bú sữa sẽ quấy nhiều hơn và sữa thì ứ lại gây cương tức vú. Sữa ứ đọng do không được bú sẽ có thế gây ra việc tạo sữa ít hơn, dần dần mất sữa. Do vậy, những bà mẹ nhiều sữa, sau khi trẻ bú nên vắt bớt sữa để làm trống bầu vú vì nếu vú mẹ còn đầy sữa thì cơ thể sẽ tiết ra chất ức chế sự tạo sữa.
Để đề phòng tránh đau núm vú, bà mẹ không nên cho trẻ ngậm núm vú giả hoặc dùng bình sữa. Bởi vì cách bú sữa từ bình rất khác với bú sữa từ vú mẹ, với bình sữa trẻ chỉ cần mút nhẹ là sữa đã ra rất nhiều khi đó trẻ dễ dàng từ chối bú mẹ.
Nếu núm vú quá to hoặc bị tụt vào trong
Khi núm vú phẳng hoặc bị tụt vào trong ở một số mẹ, trong trường hợp đó bà mẹ cần kiên trì cho con bú, động tác bú của trẻ sẽ giúp kéo dài núm vú. Mẹ cũng có thể vắt sữa, đút cho trẻ uống bằng thìa. Khi vắt sữa sẽ giúp cho bầu vú mềm hơn, trẻ sẽ dễ ngậm hơn. Tuyệt đối không cho trẻ bú bình vì sẽ làm cho trẻ khó ngậm bắt vú của mẹ hơn.
Nếu mẹ bị tắc tia sữa và biến chứng viêm vú, khi đó vú sẽ nổi cục cứng, sưng tấy từng mảng và rất đau. Trong trường hợp này bà mẹ vẫn tiếp tục cho con bú với các ngậm bắt vú đúng, dùng khăn ấm chườm vú và massage nhẹ nhàng bầu vú. Bà mẹ cũng cần uống nước nhiều và được nghỉ ngơi.
Nuôi con bằng sữa mẹ là quá trình tự nhiên nhưng cũng không ít khó khăn và trục trặc xảy ra, do vậy các bà mẹ rất cần sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của những người xung quanh để việc cho trẻ bú được thành công
Nguồn: http://mommy.vn/tre-bat-dau-hoc-bu/bi-quyet-de-co-nhieu-sua-sau-sinh.html
Bài 2. Nhiều nguyên nhân khiến sản phụ không có nhiều sữa
Bác sĩ Ngô Thị Phương Mai, Trưởng Khoa Sanh, Bệnh viện Từ Dũ TP.HCM, cho biết có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng tắc sữa sau khi sinh. Vì vậy, các bác sĩ thường khuyên, trong thời kỳ mang thai, nên vệ sinh núm vú mỗi lần tắm để núm vú luôn trong tư thế sẵn sàng tiết sữa sau khi sinh.
Thông thường, sau khi sinh, sữa sẽ được tiết từ từ. Các bà mẹ không nên căng thẳng sẽ tạo làm sữa tắc lại, không lưu thông. Không ít bà mẹ rơi vào tình trạng, sữa càng ra ít thì càng lo lắng. Và chính sự lo lắng này đã khiến sản phụ rơi vào tình huống tệ hơn.
Sau khi sinh, hãy xoa nhẹ đầu vú để vú tiết sữa. Nếu vú bị cương và ứ sữa, bạn có thể dùng khăn ấm massage bầu vú để sữa tan ra. Sau đó, dùng chiếc lược chải đầu chải bầu vú theo hướng từ trên xuống để các tuyến sữa được thông.
Ngoài ra, để có nhiều sữa sau khi sinh, các bà mẹ cần có một chế độ ăn uống đầy đủ, nên uống nhiều nước và có chế độ nghỉ ngơi hợp lý trong giai đoạn mang thai. Sau khi sanh xong, tiếp tục áp dụng quy tắc này, các bà mẹ sẽ có đủ sữa cho con bú.
Nguồn: http://mommy.vn/tre-bat-dau-hoc-bu/bi-quyet-tranh-tac-va-co-nhieu-sua-sau-sinh-2.html
Bài 3. Những điều cần biết khi cho con bú mẹ
Lợi ích của sữa mẹ
Đối với trẻ nhũ nhi, sữa mẹ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng quý giá. Ngoài ra, trong sữa mẹ còn có nhiều kháng thể giúp bảo vệ trẻ khỏi bệnh tật. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ sẽ được bảo vệ khỏi một số bệnh như:
- Các bệnh nhiễm trùng thường gặp.
- Viêm tai giữa.
- Tiêu chảy.
- Nhiễm trùng hô hấp và hen suyễn.
- Đái tháo đường ở trẻ nhỏ.
- Hội chứng đột tử ở trẻ nhỏ.
- Béo phì.
Lợi ích của việc cho con bú mẹ
Khi cho trẻ bú, tử cung người mẹ sẽ được co hồi sớm giúp tránh mất máu hậu sản. Việc cho con bú cũng giúp kích thích tạo sữa, đồng thời tạo được sự gắn bó giữa mẹ và con. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn cho thấy những người không cho con bú sẽ có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn ở những bà mẹ có cho con bú.
Bạn có cho con bú đúng cách chưa?
Khi trẻ sinh ra đời đều có bản năng bú mẹ và mẹ có thể cho con bú ngay khi bé vừa chào đời. Sau đây là một số lưu ý để mẹ cho bé bú đúng cách:
- Sau khi sinh nên cho trẻ bú càng sớm càng tốt, để tận dụng nguồn sữa non rất giàu dinh dưỡng và chất diệt khuẩn.
- Trước khi cho bé bú, nên lau đầu vú bằng nước sạch, vắt bỏ giọt đầu.
- Mỗi lần chỉ nên cho bú một bên vú.
- Nếu trẻ bú không hết sữa nên vắt bỏ lượng sữa thừa. Thời gian đầu nên cho trẻ bú cả trong đêm.
- Trẻ bú mẹ tốt khi cằm chạm vú mẹ, miệng mở rộng, môi dưới đưa ra ngoài quầng vú còn lại phía trên nhiều hơn phía dưới.
- Tư thế bú mẹ đúng: đầu và thân trẻ trên cùng một đường thẳng, mặt trẻ đối diện vú mẹ và miệng trẻ đối diện núm vú, thân trẻ nằm sát thân mẹ, mẹ đỡ toàn bộ thân trẻ.
- Nếu trẻ bị ọc sữa, có thể hạn chế bằng cách vác đứng trẻ vài phút và vỗ nhẹ vào lưng.
Cho trẻ bú bao nhiêu thì đủ?
Thường trẻ bú theo nhu cầu và nhu cầu này khác nhau ở từng trẻ. Trung bình mỗi trẻ bú khoảng 8 - 12 lần trong 24 giờ. Mẹ có thể nhận biết được trẻ bú đủ qua những biểu hiện sau:
- Tiểu ướt tã 6 - 8 lần trong 24 giờ.
- Tiêu phân sệt trung bình 6 - 8 lần trong 24 giờ và ít nhất 1 lần mỗi ngày trong 2 tháng đầu tiên.
- Tăng cân đều đặn và phù hợp với lứa tuổi.
Khi nào có thể cai sữa cho bé?
Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì thời gian bắt đầu việc cai sữa mẹ là từ 6 tháng tuổi. Trong 6 tháng tiếp theo, trẻ sẽ được tập quen dần với thức ăn đặc. Trẻ có thể cai sữa hoàn toàn khi được 2 tuổi hoặc hơn. Tuy nhiên, thời điểm cai sữa như thế nào sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào “sự thỏa thuận” giữa mẹ và bé.
Bài 4. Những điều cần biết khi trẻ bú mẹ
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho bé phát triển, là kháng thể để giúp trẻ chống lại nhiễm trùng trong giai đoạn đầu đời. Bạn muốn nuôi bé bằng nguồn sữa mẹ quí giá nhưng vẫn còn hàng "tá" những băn khoăn, thắc mắc quanh việc cho trẻ bú mẹ.
Cho trẻ ăn theo đúng "yêu cầu"
Đôí với trẻ nhỏ tuy chưa thể nói được rằng bé muốn ăn, nhưng nếu có biểu hiện quấy khóc thì chứng tỏ bé đang đói và cần được ăn.
Hầu hết với trẻ sơ sinh thì bé có nhu cầu ăn từ 8 - 12 lần/ngày và mỗi lần ăn cách nhau khoảng từ 2 - 3 tiếng.
Đối với trẻ từ 2 - 3 tháng tuổi thì nhu cầu ăn giảm xuống là từ khoảng 6 - 8 lần/ngày.
Nếu muốn cho trẻ ăn thêm sữa ngoài, bạn không nên cho trẻ ăn thường xuyên vì với trẻ nhỏ hệ tiêu hóa còn non nớt, trong khi đó sữa bột lại khó tiêu hóa và hấp thu hơn sữa mẹ.
Quan tâm tới hàm lượng vitamin D
Nếu bạn muốn cho trẻ ăn hoàn toàn bằng sữa mẹ mà không bổ sung thêm sữa bột bên ngoài thì hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về việc tăng cường hàm lượng vitamin D cho bé.
Lý do là bởi sữa mẹ không cung cấp đủ hàm lượng vitamin D cần thiết cho bé, trong khi đó vitamin D lại là một loại vi chất giúp bé hấp thu hàm lượng canxi và photpho - rất cần thiết cho quá trình phát triển của răng và xương.
Nếu cơ thể trẻ bị thiếu hụt hàm lượng vitamin D, sẽ khiến cho xương bị yếu, và dễ có nguy cơ bị gãy xương.
Biết dừng đúng lúc
Khi trẻ ngừng bú hay ngậm miệng lại hoặc quay mặt ra khỏi ti mẹ thì chứng tỏ bé đã bú no. Trung bình cứ bú khoảng từ 10 - 20 phút thì trẻ sẽ đủ no, bạn cần nhận biết được dấu hiệu trẻ đã bú no để tránh bắt ép trẻ bú tiếp khi trẻ không muốn.
Nếu bé bú chậm thì cũng chỉ ngừng cho bú khi bé muốn ngừng, không ngừng sớm vì bé sẽ không nhận đủ sữa. Mẹ nên thường xuyên cho bú và nên cho bú đêm, nếu bé đòi, vì sữa xuống nhiều và nhanh hơn. Không nên qui định khoảng cách giữa 2 lần bú. Nên cho bú hết vú này rồi hãy cho bú sang vú kia. Không nên cho bú một nửa vú này rồi một nửa vú kia vì như vậy bé sẽ không nhận được sữa cuối. Sữa cuối giàu chất béo giúp trẻ mau lớn. Ngoài ra, lượng sữa còn tồn đọng trong vú sẽ ức chế, ngăn cản sự tạo sữa. Nếu bé bú không hết bầu sữa thì mẹ phải vắt hết sữa để tiếp tục tạo sữa.
Dấu hiệu bất thường của trẻ
Nếu trẻ không tăng cân đều, không đi cầu đều đặn, ngủ li bì, có những biểu hiện chán ăn thì đó là những biểu hiện bất thường. Hãy nhanh chóng đưa trẻ tới gặp bác sĩ để có những kết luận kịp thời.
Cho bé bú đều đặn để tăng tiết sữa
Việc bạn cho bé bú đều đặn sẽ tạo ra một loại hormone kích thích tuyến sữa hoạt động mạnh (do cho bé bú cũng là sự giao lưu tình cảm giữa mẹ và con). Vì thế, bạn sẽ tiết ra nhiều sữa hơn và không sợ bị mất sữa.
Tuy nhiên, đôi khi bạn mệt mỏi hay bị stress thì sữa cũng sẽ giảm dù bé vẫn bú đều. Trong trường hợp ấy, cần nghỉ ngơi điều độ và ăn uống đầy đủ, sẽ nhanh hồi sữa.
Cách cho bú: Mẹ nằm hoặc ngồi tư thế thoải mái, bế trẻ vào lòng ôm sát trẻ vào người mẹ, miệng trẻ mở rộng ngậm sâu quầng thâm quanh núm vú, cằm tỳ sát vào vú mẹ.
Cách cho bé bú
Tư thế của mẹ khi cho trẻ bú tốt nhất là tư thế ngồi, nhất là trong những tháng đầu tiên khi trẻ còn rất nhỏ thì nên tránh cho trẻ bú trong tư thế nằm, tư thế nằm vừa có thể gây khó khăn cho trẻ trong việc mút và nuốt sữa lại vừa có thể gây nguy hiểm cho trẻ khi trẻ bị sặc sữa..
Một số bà mẹ có áp dụng cách cho trẻ bú trong tư thế nửa ngồi nửa nằm, tuy nhiên tư thế này cũng ít được các bác sĩ nhi khuyên vì như vậy mẹ có thể dẫn đến việc hai mẹ con không nhìn thấy mặt nhau, làm thiếu đi sự tương tác cần thiết trong quan hệ mẹ con.
Trước khi cho bé bú mẹ nên dùng nước ấm và một cái khăn bằng gạc mỏng và mềm để lau rửa đầu vú thật sạch.
Nguồn: http://mommy.vn/tre-bat-dau-hoc-bu/nhung-dieu-can-biet-khi-tre-bu-me.html
Bài 5. Học cho con bú
Cho con bú là bản năng của phụ nữ, tưởng chừng như điều đơn giản. Tuy nhiên, những người lần đầu làm mẹ vẫn có thể gặp không ít bỡ ngỡ. Để tránh điều này, chị em nên học cách cho bé bú thật kĩ trước khi sinh. Dưới đây là những chỉ dẫn sẽ giúp ích rất nhiều cho bạn.
Cho bé bú sớm: Bạn nên cho bé bú lần đầu tiên khoảng 1 giờ trước khi sinh, vì lúc này, bé còn thức và bản năng bú rất mạnh. Khi đó, cơ thể người mẹ sản xuất ra sữa non - chất lỏng chứa kháng thể vô cùng tốt để bé chống lại các bệnh tật từ môi trường bên ngoài.
Tư thế đúng: Miệng của bé mở rộng, ngậm lấy toàn bộ đầu ti, còn đầu ti của bạn ở càng sâu trong miệng bé càng tốt. Như vậy, sẽ giúp giảm đau cho mẹ. Nếu thấy lúng túng, bạn có thể nhờ sự giúp đỡ của y tá, họ có kiến thức và sẽ giúp bạn tìm được tư thế đúng.
Cho bú thường xuyên: Bé mới sinh cần được bú thường xuyên, khoảng 2 tiếng/lần. Khoảng thời gian này vừa vặn để cơ thể mẹ sản xuất đủ sữa cho bé bú. Một điều nữa bạn cần chú ý là, sữa mẹ dễ tiêu hoá hơn sữa công thức, vì thế, trẻ bú sữa mẹ sẽ bú nhiều lần hơn trẻ ăn sữa ngoài.
Không cho bé uống thêm chất khác: Bé bú sữa mẹ không cần nước đường hoặc những chất bổ sung khác, vì chúng có thể làm ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bé, làm nhu cầu bú sữa mẹ của bé giảm đi. Bạn nên nhớ, bé bú càng nhiều thì sữa mẹ cũng sẽ sản xuất ra nhiều để đáp ứng nhu cầu đó.
Hạn chế ti giả: Tốt nhất, bạn nên đợi đến khi bé được khoảng 2 tuần tuổi rồi mới cho bé ngậm ti giả để bé không bị lạ. Ti giả thường có những nét khác biệt với ti thật mà bé vẫn bú trước đó. Bú bình còn khiến bé lạ lẫm hơn rất nhiều so với ti mẹ.
Không khí khô ráo: Mỗi khi ngực bị căng cứng sữa, bạn nên để cho đầu ngực khô tự nhiên sau khi cho bé bú xong để tránh bị nứt, dẫn đến tình trạng nhiễm trùng. Nếu đầu ti đã bị nứt, bạn hãy lấy một ít sữa bôi lên chỗ bị nứt để vết thương nhanh lành. Một biện pháp khác là bôi dầu vitamin E và mỡ cừu. Tuy nhiên, một số bé có thể bị dị ứng với hai loại chất này.
Đề phòng nhiễm trùng: Các triệu chứng nhiễm trùng ngực là sốt, sưng đau và đỏ ngực. Bạn cần đi khám ngay để điều trị nếu có những biểu hiện trên.
Giảm căng tức ngực: Không ít chị em mới sinh có rất nhiều sữa, khiến ngực trở nên to, nặng và đau trong nhiều ngày. Để giảm bớt tình trạng này, bạn cần cho bé bú thường xuyên đến khi cơ thể tự điều chỉnh được lượng sữa sản xuất ra cho đủ với bé. Trong thời gian này, bạn nên chườm nóng và tắm nước nóng để giảm bớt cảm giác đau.
Ăn ngủ hợp lí: Để sản xuất ra nguồn sữa tốt, bạn cần cung cấp thêm 500 calo và khoảng 2 lít nước cho cơ thể mỗi ngày. Bên cạnh đó, bạn cũng cần tranh thủ nghỉ ngơi hợp lí để tránh kiệt sức trong giai đoạn “bận rộn” này.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
Walmartscholarship.Xyz Wapnews.Xyz Waponline.Xyz Wapworld.Xyz Washingtonattorney.Xyz Washingtonhome.Xyz Washingtoninsurance.Xyz Washingtonl...
-
Phiên giao dịch New York hôm qua đã chứng khiến giá vàng di chuyển theo hướng giảm trước – tăng sau. Mức đáy tại 1376.00/1377.00 sớm được ...
-
Với những người bị bệnh cao huyết áp nếu kết hợp việc uống thuốc hàng ngày với kiên trì thực hiện những biện pháp sau cũng sẽ có hiệu quả nh...
-
Vàng tiếp tục phục hồi ngày thứ hai liên tiếp khi nợ công của Bồ Đào Nha khiến các nhà đầu tư lo ngại Vàng tăng giá nhẹ trong giờ gia...
-
Nếu bạn muốn email của mình luôn được đọc đầu tiên và hữu ích đối với người nhận, hãy áp dụng những quy tắc sau: Tiêu đề đúng chủ đề Tiêu đề...
-
Tên thương mại: zyloprim Thành phần: Chỉ định: Allopurinol được dùng để điều trị bệnh nhân bị cơn gút tái phát phức tạp, bệnh gút khớp ǎn mò...
-
Trước thông tin phản ánh thực trạng một số cửa hàng kinh doanh nước giải khát ở Hà Nội sử dụng các loại bột, nguyên liệu không rõ nguồn gốc ...
-
Nhiều người nghĩ nấm mốc trong thực phẩm khô vô hại. Nhưng các chuyên gia cho biết chính chúng dẫn đến ung thư, đặc biệt là ung thư gan. Ung...
-
"Từ lúc có bé Cún thì vườn của nhà mình ít khi thiếu các loại rau, nhất là rau mầm, cho bé ăn thực phẩm nhà tự trồng mới yên tâm”, vừa ...
-
Đây là một trong 4 giải pháp được Ngân hàng Nhà nước dự kiến thực hiện trong năm 2011 nhằm đảm bảo ổn định hệ thống tiền tệ, tín dụng và n...