Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế-đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế-đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

HSBC: Lạm phát sẽ là mối lo lớn tại các thị trường mới nổi trong năm 2011

Chỉ số phát triển kinh tế HSBC tại các thị trường mới nổi HSBC EMI cho thấy các thị trường này tăng trưởng nhanh trong quý cuối cùng của năm 2010.

5 điểm đáng chú ý
HSBC: Lạm phát sẽ là mối lo lớn tại các thị trường mới nổi trong năm 20111) Chỉ số phát triển kinh tế tại các thị trường mới nổi của HSBC (HSBC Emerging Market Index -HSBC EMI) tăng lên mức 55,7 trong quý IV năm 2010 nhờ hoạt động sản xuất tăng trưởng tốt.
2) Tỉ lệ tăng trưởng đạt cao nhất ở Đông Âu, Ấn Độ và Trung Quốc.
3) Chi phí đầu vào sản xuất tăng lên đỉnh cao nhất trong vòng hai năm rưỡi trong bối cảnh nút thắt về chuỗi cung ứng.
4) Cả sản lượng và đơn hàng mới tại các thị trường mới nổi tăng trưởng nhanh hơn đáng kể trong quý IV.
5) Các đơn hàng xuất khẩu tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn còn ít hơn so với đỉnh của quý I.
Kết quả cuộc khảo sát mới nhất về chỉ số phát triển kinh tế HSBC tại các thị trường mới nổi HSBC EMI cho thấy các thị trường này tăng trưởng nhanh trong quý cuối cùng của năm 2010, hồi phục trở lại sau đợt tăng trưởng tương đối chậm chạp trong quý III và tô đậm hơn khoảng cách tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi so với các quốc gia phát triển.
Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất cho tăng trưởng của năm 2011 chính là chi phí đầu vào sản xuất tăng tới mức cao nhất tính từ quý II năm 2008, cho thấy áp lực ngày càng tăng nhanh của lạm phát đối với các thị trường mới nổi kể từ khi áp lực này được nêu ra lần đầu trong báo cáo HSBC EMI vào quý I năm 2010. Lạm phát tăng cao phản ánh giá hàng hóa tăng, hệ quả của chính sách tiền tệ nới lỏng tại Mỹ và việc nắm giữ ít hàng tại kho của các nhà cung cấp trên thị trường dẫn tới tình trạng giao hàng chậm trễ và gia tăng chi phí.
Chỉ số EMI tăng lên 55,7 từ 54,2 của quý III năm 2010, mức thấp nhất trong năm quý gần đây, và cao hơn mức trung bình năm quý là 54,7. Tuy nhiên, tốc độ tăng vẫn chậm hơn so với tỉ lệ ghi nhận được trong quý IV năm 2009 và nửa đầu năm 2010.
Tỉ lệ tăng trưởng tại các thị trường mới nổi bước đầu cho thấy sự tăng trưởng trở lại của các hoạt động sản xuất vì khối dịch vụ vẫn phát triển ổn định trong quý cuối cùng của năm. Tỉ lệ tăng trưởng của cả hai khối này hầu như ngang bằng nhau.
Chỉ số phát triển kinh tế tại các thị trường mới nổi của HSBC (HSBC Emerging Markets Index (EMI), HSBC EMI) là một chỉ số được tập hợp từ các dữ liệu trong cuộc khảo sát chỉ số quản lý sản xuất (Purchasing Managers’ Index™ (PMI™), HSBC PMI) của các thị trýờng mới nổi như Cộng Hoà Czech, Hồng Kông, Israel, Mexico, Ba Lan, Singapore, Nam Phi, Hàn Quốc, Ðài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ả Rập và những nước thuộc khối BRIC như Brazil, Nga (Russia), Ấn Ðộ (India) và Trung Quốc
(China). Cuộc khảo sát được thực hiện dựa trên tình hình hoạt động kinh doanh tại hơn 5.800 công ty.

Ký kết Hiệp định khuyến khích đầu tư và bảo hộ lẫn nhau

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Võ Hồng Phúc và Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp vương quốc Ôman - Maqbool Ali Sultan đã ký kết Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và vương quốc Ôman. Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cho biết, hiệp định là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển trong quan hệ hợp tác giữa hai nước, đồng thời tạo ra khung pháp lý vững chắc cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp hai nước, góp phần củng cố, tăng cường lòng tin của nhà đầu tư. Ngoài ra, việc ký kết hiệp định sẽ tạo tiền đề thúc đẩy hoạt động đầu tư song phương Việt Nam - Ôman trong thời gian tới.

Về phía Ôman, ngài Maqbool Ali Sultan cho biết, quốc gia này mong muốn hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực tài chính, bất động sản, dầu khí, khoáng sản, dịch vụ, xây dựng, khách sạn và nhiệt điện.            

Đầu tư nước ngoài: “Hiệu ứng Sony” ngày càng nét

Đầu tư nước ngoài: “Hiệu ứng Sony” ngày càng nét Khi Sony Việt Nam tuyên bố ngừng sản xuất để chuyển sang nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, nhiều người đã thấy sốc về nguy cơ hàng loạt doanh nghiệp chuyển hướng đầu tư.

Đầu tư vào lĩnh vực nhập khẩu và phân phối đã trở nên nhộn nhịp trong năm 2010, cho thấy xu hướng không còn mặn mà với chuyện mở rộng sản xuất tại Việt Nam của nhiều doanh nghiệp FDI.
Bán lẻ lên ngôi
Hai năm trước, khi Sony Việt Nam tuyên bố ngừng sản xuất để chuyển sang nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, nhiều người đã thấy sốc khi nghĩ tới nguy cơ hàng loạt nhà máy sản xuất, lắp ráp các mặt hàng tiêu dùng sẽ đóng cửa trong thời gian tới.
Nhưng giờ đây, “hiệu ứng Sony” đã không còn gây ngạc nhiên. Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong năm 2010, đã có 525 dự án FDI đầu tư vào mua bán hàng hóa được trình hồ sơ xin cấp phép.
Trong số này, Bộ Công Thương xác định có khoảng 235 dự án đáp ứng được các quy định pháp luật có liên quan, trong đó có 175 dự án xin bổ sung mục tiêu phân phối hàng hóa và 60 dự án được cấp phép lần đầu.
Đáng chú ý là, trong số các dự án được chấp thuận về chủ trương cấp phép, có nhiều dự án của các công ty đã có mặt tại Việt Nam từ trước khi gia nhập WTO mở rộng hoạt động kinh doanh thành lập cơ sở bán lẻ mới.
Năm 2010 ghi nhận sự mở rộng của các doanh nghiệp chuyên về phân phối bán lẻ. Công ty TNHH Metro Cash&Carry lập 4 trung tâm thương mại bán buôn tại các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, An Giang, Vũng Tàu. Công ty TNHH Lotte Việt Nam mở trung tâm thương mại tại quận 11, Tp.HCM, trong khi Big C đã mở siêu thị bán lẻ tại Vĩnh Phúc.
Tuy nhiên, do các dự án này đơn thuần kinh doanh thương mại không gắn với xây dựng cơ sở vật chất nên vốn đầu tư thấp, trung bình khoảng 300.000 USD.
Nguồn vốn đầu tư FDI trong lĩnh vực mua bán hàng hoá rất đa dạng, trong đó nhiều nhất là từ các quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore và một số quốc gia khác như Ý, Pháp, Đức... Trong khi đó, về địa điểm đầu tư, các dự án này tập trung nhiều nhất tại các địa phương như Hà Nội, Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và số lượng các dự án thuộc các khu công nghiệp các tỉnh phía Bắc (như Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên...) đề nghị bổ sung mục tiêu hoạt động tăng khá nhanh.
Ngoài ra, nhiều dự án thuộc diện bổ sung mục tiêu hoạt động nhằm phục vụ tốt hơn hoặc mở rộng quy mô đã đầu tư nên thường có thể triển khai ngay sau khi được cấp phép.
Bộ Công Thương cũng ghi nhận xu hướng một số hãng nước ngoài chuyển trụ sở của họ tại các nước Đông Nam Á về Việt Nam. Điều này tạo cho Việt Nam vị thế mới, nhưng cũng đặt ra yêu cầu quản lý để chống gian lận thương mại và thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cơ hội nhìn lại chính sách
Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài và hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu đầu tư nước ngoài, là một người giàu thâm niên về quản lý đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Đánh giá về “hiệu ứng Sony”, ông nói rằng ông không ngạc nhiên vì tại thời điểm cấp phép họ đã xác định rằng sẽ chỉ xin hoạt động sản xuất trong 10 năm, cho dù sau đó có xin gia hạn thêm.
Vấn đề là ở chỗ trong khi Sony công bố một cách rõ ràng về lộ trình đầu tư, một loạt các doanh nghiệp khác, đặc biệt trong lĩnh vực ôtô lại không làm như vậy. Trong các phát biểu chính thức, họ vẫn cam kết ”đồng hành cùng nền công nghiệp ôtô Việt Nam” dù rằng trên thực tế, các doanh nghiệp này đều đã thành lập công ty con để nhập khẩu và phân phối.
Câu hỏi đặt ra là đến lúc nào thì các công ty ôtô sẽ dừng sản xuất và chỉ tập trung cho việc nhập khẩu và phân phối? Hay họ sẽ tăng dần tỷ trọng nhập khẩu khi việc đó đã và đang trở nên có lợi hơn?
Trả lời báo chí mới đây, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng nói hiện tượng này đơn giản là do cách tính toán của nhà đầu tư, làm thế nào có lợi hơn và luật pháp Việt Nam có cho phép hay không.
“Chúng ta đang đứng trước áp lực hội nhập sâu WTO, thuế suất các nước ASEAN cũng đang dần về 0% cho nên nhiều nhà đầu tư chuyển từ sản xuất sang nhập khẩu, đó là một xu hướng”, ông Hoàng nói. “Chúng ta có nhiều ưu đãi thu hẹp, chẳng hạn như thuế thu nhập doanh nghiệp cho nên một số nhà đầu tư tính toán là đóng cửa.”
“Sứ mệnh lịch sử” của nhiều doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đối với các tập đoàn mẹ ở chính quốc đã và đang được hoàn tất. Đây chính là thời điểm để các nhà hoạch định chính sách nhìn lại quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là trong vấn đề ưu đãi đầu tư.
Nhiều năm qua, Việt Nam đã dành nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư và hy sinh lợi ích người tiêu dùng để kỳ vọng họ giúp xây dựng những “nền công nghiệp mũi nhọn”. Nghịch lý này có được coi là bài học đắt giá cho việc hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế nói chung, thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng trong bối cảnh mới?
Theo Nghệ Nhân
VnEconomy

Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư nước ngoài

Theo Bộ KH-ĐT, trong năm 2011 công tác thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ được tăng cường hơn nữa.
Theo đó, đối với những dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là các dự án có sử dụng đất lớn, có khả năng gây ô nhiễm môi trường, sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản, không có chế biến sâu, các dự án tiêu tốn nhiều năng lượng,... sẽ được xem xét kỹ càng hơn, chặt chẽ bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước cũng như phát triển bền vững, những dự án đầu tư chậm được triển khai sẽ được phân loại để có biện pháp xử lý phù hợp, trong đó có việc xem xét rút giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật để tạo cơ hội cho các nhà đầu tư khác thực sự có tiềm năng và năng lực triển khai tham gia đầu tư.
Cũng theo Bộ này, trong năm 2010, Việt Nam đã thu hút được 18,59 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài đăng ký (gồm cả cấp mới và tăng vốn), bằng 82,2% so với cùng kỳ 2009 và gần đạt mục tiêu cho năm 2010.
Mặc dù vậy, vốn FDI vào Việt Nam vẫn duy trì được con số đáng khích lệ trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu. Điều đó cho thấy môi trường đầu tư của Việt Nam luôn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

Thái Lan tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát



 
Nguồn: wsj.com
(BantinForex)
- Năm 2011, châu Phi vẫn được coi là thị trường đầy tiềm năng và nhiều quốc gia đang đẩy mạnh đầu tư vào châu lục này. Sự đầu tư mạnh mẽ từ bên ngoài đã và đang tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh tại châu Phi và giúp các nền kinh tế châu lục này hội nhập nhanh hơn vào kinh tế thế giới, phát triển bền vững và cải thiện đời sống người dân.
Theo các chuyên gia kinh tế quốc tế, các dự án đầu tư nước ngoài, đặc biệt là khu công nghiệp, đang rất sôi động trên khắp châu Phi. Một số cường quốc kinh tế đang thực hiện chiến lược mới hướng ra toàn cầu và châu Phi đang trở thành "miền đất hứa" cho sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chuyển dịch các lĩnh vực sản xuất cần nhiều lao động phổ thông và gây ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, châu Phi cũng là thị trường tiêu thụ lớn của các loại hàng hóa giá rẻ và không đòi hỏi chất lượng cao.
Tuy nhiên, việc các công ty nước ngoài thâm nhập thị trường châu Phi cũng kéo theo nhiều vấn đề liên quan đến chuyển giao công nghệ, điều hành kinh tế vĩ mô, việc làm, quyền lợi của người lao động địa phương. Đây cũng chính là nguyên nhân đang làm nảy sinh mâu thuẫn giữa giới chủ và người lao động địa phương.
Ngoài các đối tác truyền thống lâu đời như Anh, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Bra-xin cũng đang tăng cường đầu tư, thâm nhập vào châu lục nhiều tiềm năng này để chiếm thị phần và tỷ trọng cho hàng hóa của họ và hy vọng biến châu Phi thành trung tâm sản xuất hàng giá rẻ cung cấp ngay cho thị trường rộng lớn, nhưng "dễ tính" này. Thời gian gần đây, châu Phi đã trở thành khu vực cạnh tranh khốc liệt giữa các cường quốc kinh tế và những nền kinh tế mới nổi trên thế giới.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mặc dù có rất nhiều lợi thế lớn, nhưng khu vực này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro như bất ổn chính trị, xung đột tôn giáo, sắc tộc chế độ độc tài. Đây cũng chính là một trong những vấn đề khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại khi đầu tư vào châu Phi, đặc biệt là đối với ngành công nghiệp có nguồn vốn lớn, công nghệ cao và khả năng thu hồi vốn kéo dài. Ngoài ra, việc đầu tư và chuyển dịch sản xuất ồ ạt của nhiều quốc gia sẽ làm ảnh hưởng lớn và lâu dài đến môi trường sinh thái của khu vực này.

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2011

Hệ nguyên lý mới điều hành nền kinh tế

Đã có một sự đồng thuận cao giữa các chuyên gia kinh tế cũng như giới làm chính sách về căn nguyên chính của những bất ổn kinh tế vĩ mô thời gian qua, như đầu tư công cao và thiếu hiệu quả, hệ thống hành chính cồng kềnh, sự chậm chạp trong việc cải tổ khối doanh nghiệp nhà nước, hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học và công nghệ lạc hậu, và phối hợp giữa các cơ quan hoạch định chính sách yếu.
Một khu vực DNTN đã hình thành, đông đảo về số lượng, có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế trong thập niên qua. Ảnh: Lê Quang Nhật
Với những căn nguyên đó, Việt Nam không thể tiếp tục mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên, và lao động giá rẻ như hiện tại. Những năm vừa qua cho thấy, chỉ cần tăng vốn đầu tư một chút để thúc đẩy tăng trưởng, nền kinh tế ngay lập tức gặp bất ổn về kinh tế vĩ mô.
Nền kinh tế Việt Nam đã bước vào một giai đoạn cần sự đổi mới toàn diện.
Đổi mới nền kinh tế lần này khác với đổi mới hồi cuối thập niên 1980. Lần đổi mới trước, quy mô của nền kinh tế còn nhỏ, không phức tạp, và ít hội nhập với bên ngoài. Chỉ cần một số thay đổi theo hướng cởi trói cho các thành phần kinh tế chúng ta đã đạt được những cải thiện đáng kể về năng suất lao động. Nhờ đó, Việt Nam đạt tăng trưởng cao với mức lạm phát thấp và tỷ giá ổn định.
Hiện nay, quy mô của nền kinh tế Việt Nam đã lớn hơn rất nhiều lần và đã hội nhập tương đối toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu. Dư địa để tiến hành các cải cách nhỏ dường như đã hết. Để tiếp tục phát triển, Việt Nam cần có những cải cách cơ bản hơn. Đó là đổi mới về tư duy quản trị nền kinh tế.
Chúng ta cần một tư duy mới về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Hoạt động kinh tế đòi hỏi luật lệ và công bằng. Nhà nước phải là nơi mà doanh nghiệp có thể tin cậy rằng mình được đối xử công bằng: công bằng về vốn, về cơ hội kinh doanh, về xét xử tranh chấp, về đóng góp cho Nhà nước. Sự phức tạp của nền kinh tế khiến cho Nhà nước không thể can thiệp trực tiếp vào những đối tượng cụ thể. Bất cứ sự can thiệp trực tiếp nào của Chính phủ cũng khiến cho một bộ phận của nền kinh tế được hưởng lợi, trong khi một bộ phận khác bị thiệt hại.
Chúng ta cần một tư duy mới về khu vực doanh nghiệp nhà nước. Cần phải chấp nhận một thực tế là các công chức nhà nước không có động cơ để nắm bắt các biến động kinh tế như các doanh nhân dùng vốn của mình để kinh doanh. Thiếu động cơ làm kinh tế thì dù có tài giỏi mấy cũng không thể giúp doanh nghiệp phát triển. Vì thế, tất cả các công việc kinh doanh theo hướng chạy theo lợi nhuận nên để cho tư nhân. Doanh nghiệp nhà nước chỉ hoạt động trong những lĩnh vực thuần tuý công ích.
Tư duy chính trị mới đòi hỏi chúng ta tìm kiếm những lời giải đáp cho các vấn đề ngắn hạn phát sinh từ những xung đột lợi ích hàng ngày. Một tư duy chính trị hướng đến những vấn đề cứu cánh của loài người là không thực tế. Tư duy chính trị hướng đến các vấn đề dân sinh hàng ngày đòi hỏi một bầu không khí trao đổi cởi mở giữa các bộ phận dân cư.
Chúng ta cần đổi mới về tư duy đầu tư công. Chỉ những thứ dịch vụ mà hầu hết người dân được hưởng mới cần thiết đầu tư công. Trong khi quốc phòng, an ninh, và luật pháp có thể cần đầu tư công toàn diện, thì những lĩnh vực khác như đường sá, điện, nước, giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, v.v. không nhất thiết phải cần đầu tư công. Với các lĩnh vực này, chúng ta chỉ nên dừng đầu tư công ở cấp hệ thống quốc gia. Còn những công trình cụ thể như những ngôi trường cụ thể, bệnh viện cụ thể, những con đường cụ thể v.v. thì hoàn toàn có thể san sẻ lại cho khu vực tư.
Chúng ta cần có một tư duy mới về sở hữu đất đai nếu muốn tiếp tục phát triển nông nghiệp và nông thôn. Với cơ chế sở hữu hiện tại, ruộng đất trở thành một thứ tài sản ít có giá trị do kém thanh khoản. Nông dân hầu như không thể dùng ruộng đất của mình để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn hình thành các trang trại hay các hợp tác xã.
Chúng ta cần một tư duy mới về giáo dục bậc cao và nghiên cứu khoa học và công nghệ. Đây là những lĩnh vực hoàn toàn có tính tư lợi. Sự phát triển của chúng luôn mang lại lợi ích cho các cá nhân đầu tư cũng như thụ hưởng. Nếu có những đổi mới phù hợp, học thuật Việt Nam có thể kỳ vọng sẽ có một nền giáo dục cao và nền khoa học, công nghệ phát triển. Điều duy nhất mà Nhà nước cần làm ở đây là tạo ra một hệ thống hỗ trợ để sao cho nền học thuật nước nhà được liên tục giao lưu, trao đổi các nền học thuật khác, để tri thức trong khu vực đại học được kết nối với tri thức khu vực nghiên cứu và kinh doanh.
Như vậy, chúng ta cần một tư duy mới về một hệ nguyên lý mới điều hành nền kinh tế phức tạp. Những vấn đề phát sinh cụ thể sẽ được trao đổi giữa những nhóm liên quan trong nền kinh tế để tìm ra giải pháp.
Ở đây, chúng ta bước sang lĩnh vực đổi mới tư duy chính trị. Chính trị giúp cho xã hội dung hoà các mục đích khác nhau trong những vấn đề phát sinh cụ thể trong cuộc sống hàng ngày.
Tư duy chính trị mới đòi hỏi chúng ta tìm kiếm những lời giải đáp cho các vấn đề ngắn hạn phát sinh từ những xung đột lợi ích hàng ngày. Một tư duy chính trị hướng đến những vấn đề cứu cánh của loài người là không thực tế. Tư duy chính trị hướng đến các vấn đề dân sinh hàng ngày, đòi hỏi một bầu không khí trao đổi cởi mở giữa các bộ phận dân cư. Chỉ có lắng nghe những ý kiến khác nhau, Nhà nước mới có thể biết được những lợi ích khác nhau của mọi người, và mới có thể đưa ra được các giải pháp để dung hoà những lợi ích đó. Cần có cơ chế để những người đại diện cho nhóm lợi ích khác nhau có thể tham gia vào việc đề ra, thực hiện các giải pháp.

Thắt chặt hợp tác EU - Việt Nam

Sáng 11-1, Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam đã tổ chức buổi gặp gỡ báo chí để thông báo về tình hình hợp tác giữa EU và Việt Nam. Ông Sean Doyle - Trưởng phái đoàn EU tại Hà Nội cho biết, năm 2011, EU - Việt Nam sẽ có một loạt hoạt động hợp tác quan trọng.
Hiệp định Đối tác và Hợp tác EU-Việt Nam (PCA) được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Barroso ký tắt vào tháng 10-2010 sẽ chính thức thông qua vào năm 2011; PCA sẽ phát triển khuôn khổ hiện thời, tăng cường đối thoại và hợp tác giữa EU và Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam và EU vào năm 2010 đã thống nhất ở cấp cao về việc khởi động các vòng đàm phán về Hiệp định Thương mại tự do (FTA). Việc đàm phán sẽ được tiến hành sớm nhất có thể trong năm 2011 khi việc chuẩn bị kỹ thuật ban đầu hoàn tất.

Đông Nam Á: Bàn đạp để Trung Quốc "tấn công" châu Á?

Dự án trung tâm thương mại tại Bangkok trị giá 1,5 tỉ USD và đường sắt cao tốc xuyên Đông Nam Á đã cho thấy rõ ràng ý đồ của Trung Quốc sử dụng khu vực này như là bạn đạp để tăng cường sự hiện diện kinh tế nước này trên toàn châu Á. Đông Nam Á đang trở thành bàn đạp để Trung Quốc tăng cường sự hiện diện của nền kinh tế nước này trên toàn châu Á. Dự án trung tâm thương mại bán sỉ khổng lồ tại Thái Lan trị giá 1,5 tỉ đô la mới đây vừa được các nhà đầu tư Trung Quốc công bố chính là diễn biến mới nhất của sự việc.
Trung Quốc định đưa Bangkok trở thành trung tâm tái xuất chính cho toàn bộ khu vực ASEAN với dân số 580 triệu người.
Khi Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 1/1/2010, đa số các mặt hàng nhập khẩu vào Trung Quốc và ASEAN có thuế suất bằng 0. Điều này tạo tiền đề cho một dòng chảy tự do của hàng hóa giữa Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và Cộng đồng Kinh tế ASEAN - khối kinh tế sẽ gây ấn tượng vào năm 2015.
Sau cuộc suy thoái và khủng hoảng nợ ở Mỹ và châu Âu, bước đi hợp lý cho Trung Quốc là tìm kiếm những thị trường mới phát triển có thể hấp thu sản lượng công nghiệp lớn của họ. Đông Nam Á là khu vực có nền kinh tế phát triển mạnh. Vì vậy, Trung Quốc sẵn sàng đầu tư khoản tiền lớn để thâm nhập sâu vào ASEAN, khu vực đang dần trở thành thị trường đơn nhất.
Đồ may mặc, trang sức, phụ tùng ô tô, thực phẩm và đồ chơi là những mặt hàng sẽ được tái xuất từ Thái đến các thị trường ASEAN khác thông qua trung tâm thương mại tại Bangkok. Theo China Daily, trung tâm có diện tích 700.000 m2, tương đương với 100 sân bóng đá.
Trước đó, Trung Quốc đã công bố chương trình đường sắt cao tốc đầy tham vọng kết nối với một số quốc gia ở Đông Nam Á. Xuất phát từ tỉnh Vân Nam ở phía nam Trung Quốc, tàu cao tốc với tốc độ trên 200km/h sẽ nhanh đến Lào, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Campuchia và Singapore.
Dự kiến, chặng đầu tiên của hàng trăm km đường sắt cao tốc sẽ bắt đầu xây dựng ở Lào trong năm nay với chi phí ước tính là 600 tỷ bạt. Chặng này sẽ được kết nối với tuyến đường sắt cùng loại ở phía nam Trung Quốc.
Chặng thứ hai sẽ bắt đầu từ tỉnh Nong Khai ở phía Bắc Thái Lan và kết thúc ở Bangkok. Người Trung Quốc đang thúc giục nhà chức trách Thái Lan nhanh chóng đồng ý dự án liên doanh trên đất Thái. Đoạn Nong Khai - Bangkok sẽ kết nối với đoạn đường sắt ở Lào tại biên giới hai nước.
Từ Bangkok, tuyến đường được mở rộng sang hướng nam đến Malaysia và cuối cùng là Singapore. Từ phía nam Lào, các tuyến đường bổ sung đang được lên kế hoạch để dẫn đến Campuchia và Việt Nam nhằm liên kết các thành phố lớn ở Đông Dương phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa.
Một tuyến đường sắt cao tốc khác sẽ chạy từ phía nam Trung Quốc đến Myanmar và kết thúc ở thành phố cảng phía nam nước này.
Do đó, Trung Quốc dường như trở thành người hưởng lợi chính của quá trình hội nhập kinh tế ở Đông Nam Á. Các thành phố lớn ở ASEAN lục địa nối với nhau qua hệ thống đường sắt cao tốc.
Các nhà chức trách Thái Lan đang tìm kiếm để có ít nhất 60% cổ phần trong liên doanh đường sắt cao tốc trên đất Thái để đảm bảo rằng chính quốc gia này chịu trách nhiệm kiểm soát hoạt động của mạng lưới này tại đây.
Trong khi có rất nhiều cơ hội khi Trung Quốc mở rộng phạm vi hoạt động ở các nước láng giềng nhỏ hơn, mối nguy hại có thể làm nản lòng họ. Ví dụ như một số doanh nghiệp Thái lo sợ rằng dùng Bangkok làm trung tâm tái xuất chính cho hàng hóa Trung Quốc sẽ gây nhầm lẫn cho khách nước ngoài về sản phẩm của Thái Lan cũng như khiến họ lo ngại về chất lượng sản phẩm. Dòng hàng hóa Trung Quốc đổ vào thị trường ASEAN sẽ gây thiệt hại cho các nhà sản xuất bản địa do họ thiếu lợi thế kinh tế theo quy mô, điều khiến Trung Quốc có thể giảm thiểu giá thành sản xuất.

Năm 2011, sản phẩm máy nông nghiệp có thể tăng trưởng đến 15%

Xem hình
 Ảnh minh hoạ
(Nguồn: web Cty cơ khí Quang Trung)
Theo báo cáo của Bộ Công thương, năm 2011, các sản phẩm máy nông nghiệp như máy bơm nước, máy tuốt lúa, máy xay xát lúa gạo...sẽ có mức tăng trưởng từ 5-15% so với cùng kỳ năm 2010.

Để đạt được mục tiêu, ngành cơ khí cần nâng cao năng lực chế tạo thiết bị toàn bộ với công nghệ tiên tiến, sản xuất thiết bị có độ phức tạp cao để thay thế sản phẩm nhập khẩu tiến tới xuất khẩu, mở rộng thị trường, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư sử dụng sản phẩm sản xuất trong nước.  
Đối với máy công cụ, các doanh nghiệp sản xuất ngoài việc giữ vững thị trường xuất khẩu cần hợp tác sản xuất máy công cụ chất lượng cao, bao gồm cả các loại máy công cụ được điều khiển bằng máy tính để cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.  
Phấn đấu năm 2011, sản lượng máy công cụ đạt 2.750 cái tăng 1,9% so với năm 2010./.

Lại nóng câu chuyện giá

Tăng giá mạnh nhất phải kể đến dầu ăn, chỉ trong 1 tuần đã tăng từ 34.000 đồng/lít lên mức 40.000 đồng/lít.

Không kịp nhớ giá
Những ngày này, sự tăng giá của các mặt hàng tiêu dùng đang là sự quan tâm hàng đầu của người dân. Không chỉ các bà nội trợ mới “chóng mặt” về tình trạng tăng giá của các loại hàng hoá trên thị trường mà bản thân những người bán hàng cũng “quay cuồng” với việc các nhà phân phối liên tục điều chỉnh giá bán.
 
“Hàng loạt các mặt hàng như sữa, bỉm, bim bim, bánh kẹo, dầu ăn… thời gian này đều tăng giá. Có mặt hàng đầu tuần vừa có thông báo tăng, cuối tuần lại tiếp tục điều chỉnh nên nhiều khi bán hàng cũng không kịp nhớ giá”, chủ một cửa hàng tạp hoá trên phố Tô Hiệu (Cầu Giấy, Hà Nội) cho hay.
 
Tăng giá mạnh nhất vào đợt này phải kể đến mặt dầu ăn, từ mức 34.000 đồng/lít chỉ trong vòng vài tuần đã lên mức 40.000 đồng/lít. “Một vài ngày tới giá bán của mặt hàng này sẽ còn tiếp tục tăng”, ông chủ cửa hàng trên nói.
 
Chị Mai, chủ một quán cơm bình dân trên phố Trần Cung than thở, giá của nhiều loại thực phẩm lại tiếp tục tăng mạnh. Thịt ba chỉ lên mức 75.000 đồng/kg, gà công nghiệp là 60.000 đồng/kg (tăng 5.000 đồng/kg so với giá trước đó)…; đến gói bột canh trước chỉ có 2.500 đồng nay cũng tăng thêm 500 đồng/gói. 
 
Mấy ngày qua, nhiệt độ xuống thấp cũng khiến giá một số mặt hàng rau củ bị đẩy lên. Chị Mai dẫn ra, cải ngọt từ 8.000 đồng/kg nay là 10.000 đồng, đậu côve cũng tăng thêm 2.000 đồng/kg, lên mức 12.000 đồng/kg; còn rau muống, rau cần, cải xoong cũng 4.000- 5.000 đồng/mớ. 
 
Sắm Tết sớm 
Nỗi lo hàng hóa mỗi ngày mỗi giá khiến cán bộ về hưu như bác Phạm Thị Lan (Từ Liêm, Hà Nội) vừa nhận lương hưu tháng này đã vội lo sắm Tết. “Tôi cũng mới mua được mấy món đồ khô như cân miến, vài cân đỗ xanh, ít mọc nhĩ, nấm hương…, nhưng thứ nào so với ngày thường mỗi thứ cũng đã tăng thêm 5.000- 10.000 đồng/kg. Người già, lương ít nên hay phải lo xa”, vừa cười bác Lan vừa giải thích. 
Theo kinh nghiệm của bác này thì giáp Tết người lao động có lương, có thưởng, bao giờ giá hàng hoá cũng tăng mạnh so với trước đó. 
Đến giới văn phòng như chị Thuý Ngân, biên tập viên của một trang tin điện tử cũng đã lên kế hoạch sắp Tết ngay từ đầu tháng 12 âm lịch vì thấy giá bán của nhiều loại bánh kẹo tăng từ 10- 15% so với trước đó.

Lạm phát ảnh hưởng chiến lược kinh doanh 2011

 
Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý 4/2010 chỉ đạt 126 điểm, giảm 11 điểm so với quý 3/2010.
Suy giảm lòng tin vào triển vọng kinh doanh, nhiều doanh nghiệp cho rằng lạm phát ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của họ
Suy giảm lòng tin vào triển vọng kinh doanh, nhiều doanh nghiệp cho rằng lạm phát ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của họ.

Cuộc khảo sát do Công ty Dịch vụ thông tin tài chính WVB Việt Nam và Công ty Cổ phần Đầu tư và Tư vấn tài chính Dầu khí (PVFC Invest) tiến hành từ ngày 15/12/2010 đến đầu tháng 1/2011 tại 233 doanh nghiệp thuộc 11 lĩnh vực ngành nghề chủ chốt của Việt Nam (hơn 75% trong số đó là các doanh nghiệp đại diện cho khối doanh nghiệp vừa và nhỏ) đã rút ra kết luận kể trên.

Theo kết quả điều tra, chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý 4/2010 chỉ đạt 126 điểm, giảm 11 điểm so với quý 3/2010, mức giảm lớn nhất kể từ khi chỉ số này được tiến hành khảo sát vào quý 3/2008. Đây cũng là điểm số thấp nhất của chỉ số này kể từ quý 2/2009 đến nay.

Mặc dù GDP năm 2010 ghi dấu ấn khả quan với tăng trưởng liên tục tăng sau các quý của năm và đến quý 4/2010 ước đạt 7,34%, tuy nhiên lạm phát tăng 11,75%, lãi suất tăng cao trở lại sau điều chỉnh lãi suất cơ bản, và thị trường ngoại hối, vàng, chứng khoán chưa ổn định đã ảnh hưởng đến góc nhìn của doanh nhân về triển vọng kinh doanh trong 12 tháng tới.

Đánh giá tình hình kinh tế chung của Việt Nam hiện nay, chỉ có 48,93% số doanh nghiệp tham gia khảo sát tin rằng nền kinh tế đã tốt hơn so với 12 tháng trước; 37,35% doanh nghiệp cho rằng hiện trạng nền kinh tế không có sự thay đổi; và 13,72% doanh nghiệp cảm nhận nền kinh tế đã kém đi. So với kết quả BCI quý 3/2010, số các doanh nghiệp có quan điểm lạc quan giảm mạnh 21,3%, trong khi các doanh nghiệp có quan điểm bi quan tăng đáng kể 9,53%.

Quan điểm bi quan chung cũng ảnh hưởng đến những dự đoán về tình hình kinh tế Việt Nam 12 tháng tiếp theo của doanh nghiệp. Chỉ còn 75,97% số doanh nghiệp được phỏng vấn cho rằng tình hình kinh tế Việt Nam sẽ tốt hơn, giảm 8,38% so với quý 3/2010; 20,6% số doanh nghiệp giữ quan điểm nền kinh tế trong nước sẽ không thay đổi; 3,43% số doanh nghiệp dự cảm kinh tế trong nước sẽ diễn biến theo chiều hướng xấu hơn.

Kết quả là kế hoạch về tuyển dụng lao động, cũng như đầu tư mở rộng đối với tài sản cố định cũng cùng theo xu thế chung, sụt giảm đáng kể ở quan điểm lạc quan nhưng tăng ở nhóm bi quan.

Niềm tin tăng trưởng doanh thu trong tương lai cũng suy giảm trong điều tra lần này. Kết quả cho thấy, chỉ còn 68,24% doanh nghiệp được hỏi tin rằng doanh thu của doanh nghiệp mình sẽ tăng trong vòng 12 tháng tới; 27,90% các doanh nghiệp cho rằng doanh thu của doanh nghiệp sẽ giữ nguyên; 3,86% các doanh nghiệp còn lại lo ngại doanh thu sẽ giảm.

Số các doanh nghiệp có quan điểm lạc quan về triển vọng doanh thu cũng đã giảm 5,81% và số các doanh nghiệp bi quan tăng 1,95% so với kết quả BCI quý 3/2010.

Xu thế kém lạc quan cũng kéo dài ảnh hưởng đến niềm tin vào tăng trưởng lợi nhuận thời gian tới. Có 65,67% các doanh nghiệp được hỏi hy vọng lợi nhuận của doanh nghiệp mình sẽ tăng trong 12 tháng tới; 30,47% số doanh nghiệp cho rằng lợi nhuận sẽ giữ nguyên; 3,68% lo ngại lợi nhuận của doanh nghiệp mình sẽ giảm trong vòng 12 tháng tới.

Ghi nhận những dự cảm của doanh nghiệp đối với tác động từ tăng lãi suất cơ bản, chỉ số giá tiêu dùng năm 2010, dòng tiền trên thị trường, các yếu tố có thể giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp trong năm tiếp theo...

Kết quả cho thấy có 94,85% doanh nghiệp cho rằng việc tăng lãi suất cơ bản lên 9% sẽ có tác động tích cực trong ngắn hạn và trung hạn đối với việc kiềm chế lạm phát. Có trên 41% doanh nghiệp tin rằng dòng tiền trên thị trường có thể bị ảnh hưởng bởi sự cộng hưởng của các yếu tố như thị trường vàng, chứng khoán, chính sách tiền tệ thắt chặt và lạm phát năm 2010 vượt trên hai con số, gần 20% khẳng định biến động thị trường vàng là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất.

Đặc biệt, gần 60% doanh nghiệp cho rằng tỷ lệ lạm phát năm 2010 của Việt Nam ở ngưỡng hai con số ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định chiến lược kinh doanh của họ trong năm 2011. Bên cạnh đó, các yếu tố như đơn đặt hàng, tài chính, chi phí đầu vào cũng như nguồn nhân lực vẫn là các vấn đề mà doanh nghiệp lo lắng.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

Thị trường tiền tệ đối mặt nhiều khó khăn

Thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2011 sẽ tiếp tục gặp thách thức lớn từ những tác động ngoại lai, ngay cả với lãi suất và tỷ giá.

Năm 2010, hậu khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế nước ta. Thị trường tiền tệ Việt Nam trải qua một năm nhiều “sóng gió” với những cú sốc về lãi suất, tỷ giá… Bước sang năm 2011, lãi suất ngân hàng hiện ở mức rất cao do tình hình lạm phát trong năm 2010.
Theo các chuyên gia, với mức lãi suất huy động đầu vào 14%/năm, đầu ra cho vay 17% – 18%/năm như hiện nay đã quá sức chịu đựng của doanh nghiệp nên sẽ không thể tăng cao hơn nữa.
Trong quý 1 năm 2011 thị trường tiền tệ sẽ vẫn đối mặt với khó khăn về vốn và thanh khoản, nhưng đến cuối quý 1, lãi suất sẽ giảm dần do nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh không “nóng” như trước tết, tiền mặt trong dân tăng lên, kiều hối về nhiều, các ngân hàng thương mại huy động vốn dễ dàng hơn… Đây là cơ hội để quý 2 các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay, có thể còn khoảng 15% – 16%/năm.
Năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm ở mức 23%, thấp hơn 2% so năm rồi. Đồng thời, tín dụng sẽ tập trung vào khu vực sản xuất và Ngân hàng Nhà nước có chủ trương giảm dần tăng tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất.
Điều này cho thấy chính sách tiền tệ trong năm 2011 vẫn khá thận trọng, khó nới lỏng mạnh ngay những tháng đầu năm và sẽ có mặt bằng lãi suất cho vay khác nhau cho từng đối tượng khách hàng.
Thị trường tiền tệ Việt Nam năm 2011 sẽ tiếp tục gặp thách thức lớn từ những tác động ngoại lai, ngay cả với lãi suất và tỷ giá. Những biến động của thế giới rất khó lường và có thể đảo chiều bất ngờ. Do vậy, đòi hỏi chính sách tiền tệ trong năm 2011 của Ngân hàng Nhà nước cũng phải linh hoạt, phù hợp với diễn biến của thị trường./.

Cái giá của ưu đãi đầu tư

Rất cần khuyến khích những dự án FDI không thâm dụng lao động và có khả năng chuyển giao công nghệ. Ảnh: Hà Minh
(baodautu.vn) Khoảng 0,7% GDP là chi phí Việt Nam phải bỏ ra để thực hiện các chính sách ưu đãi dành cho khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Tỷ lệ ước tính này vừa được Nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) về Xem xét và đánh giá vai trò của chính sách khuyến khích đầu tư đối với tác động của nguồn vồn FDI với kinh tế Việt Nam đưa ra trong Hội thảo tham vấn ý kiến cho nghiên cứu này được tổ chức cuối tuần trước tại Hà Nội.
Nghiên cứu này cho thấy, cái giá mà nền kinh tế Việt Nam đang phải trả cho những chính sách ưu đãi ngày càng đắt lên. Thậm chí, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam phân tích rằng, với sự thay đổi của dòng vốn FDI thế giới theo hướng phát triển công nghệ ít phát thải carbon, tiết kiệm năng lượng, nếu chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam không chuyển kịp một cách đồng bộ, bao gồm cả chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân trong nước, tháo gỡ nút thắt hạ tầng kỹ thuật, hướng vào chọn nhà đầu tư cụ thể thay vì chọn quốc gia..., thì vốn FDI đến Việt Nam sẽ là từ các nhà đầu tư tranh thủ kiếm lợi nhuận nhờ sự yếu kém về năng lực quản lý của Việt Nam.
Theo tính toán của Nhóm nghiên cứu, mức giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tuyệt đối mà các doanh nghiệp FDI được hưởng thông qua các chính sách ưu đãi lên tới khoảng 10.000 tỷ đồng/năm. Tổng mức thuế phải thu nhập doanh nghiệp phải nộp của khu vực này cũng thấp hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước (khoảng 8,1% tổng doanh thu vào năm 2008 so với 17,28%).
Ông Nguyễn Tú Anh, chuyên gia nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh tới con số gần 72% dự án FDI đang được hưởng ít nhất một dạng khuyến khích nào đó. “Hiện chưa có một đánh giá tổng thể nào về bài toán chi phí-lợi ích của các dự án FDI được hưởng ưu đãi, song tỷ lệ này cho thấy, diện được ưu đãi khá rộng. Đặt điều này vào tính thiếu nhất quán, không rõ mục tiêu của chính sách ưu đãi đầu tư, việc kiểm soát và lượng hoá lợi ích từ các dự án FDI rất khó”, ông Tú Anh nói.
Hiện tại, căn cứ vào pháp luật về đầu tư, có 26 lĩnh vực thuộc diện được đặc biệt ưu đãi đầu tư (Danh mục A), 53 nhóm ngành thuộc diện ưu đãi đầu tư (Danh mục B). Tuy nhiên, pháp luật về thuế đã giới hạn lại các danh mục này với 24 nhóm ngành thuộc Danh mục A và 39 nhóm ngành thuộc Danh mục B. Mới đây nhất, Nghị định 61/2010/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn đã quy định riêng Danh mục A gồm 28 ngành nông nghiệp. Đó là chưa kể đến danh mục các địa bàn ưu đãi đầu tư chỉ vắng mặt 9 tỉnh, thành phố…
Một suy luận logic là với  công cụ khuyến khích đầu tư của Việt Nam chủ yếu là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, tiền thuê đất; với mức ưu đãi tới 4 năm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo, hay áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm đối với khu vực đặc biệt ưu đãi…, thì ngân sách đang phải gánh chịu chi phí lớn để thực hiện các chính sách này.
Trong khi đó, Nhóm nghiên cứu cũng đã phát hiện rằng, phần lớn doanh nghiệp FDI tại Việt Nam là các công ty con thế hệ thứ hai trở lên và không có giấy phép sở hữu công nghệ độc lập. “Các công ty này chiếm tới 94%, họ không có năng lực và cũng không muốn thực hiện chuyển giao công nghệ. Hiện chỉ có 4 công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Điều này hạn chế cơ hội tiếp cận công nghệ của các công ty Việt Nam”, ông Tú Anh nói và cho rằng, thực tế này tăng nguy cơ của hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
Hơn thế, với chính sách ưu đãi dự án sử dụng 500 lao động, thậm chí là đặc biệt ưu đãi với dự án sử dụng trên 5.000 lao động, có thể thấy ngay mong muốn dịch chuyển vốn FDI sang lĩnh vực không thâm dụng lao động không những không thực hiện được, mà còn cản trở mục tiêu cải thiện năng suất lao động, loại bỏ ưu thế cạnh tranh về lao động rẻ…
Thực ra, theo ông Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế, cần phải nhìn nhận chính sách ưu đãi đầu tư FDI và đóng góp của khu vực  này trong từng giai đoạn. “Ưu đãi đầu tư FDI không sai khi vào những năm 1990, kinh tế Việt Nam rất cần vốn để phát triển, vượt qua khủng hoảng, giải quyết công ăn việc làm. Vấn đề nằm ở chỗ chính sách này được kéo quá dài, không còn phù hợp khi điều kiện kinh tế đất nước cũng như thế giới thay đổi”, ông Doanh nói.
Xu hướng tiến hành nghiên cứu, phát minh
của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam:
80% doanh nghiệp không có quỹ nghiên cứu - phát triển riêng.
67% doanh nghiệp không có hoạt động hợp tác với các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam.
35% doanh nghiệp có nghiên cứu sản phẩm thì chỉ đặt mục tiêu thích nghi với thị trường trong nước.
28% doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu sản phảm mới.
13% doanh nghiệp FDI có hợp tác đào tạo với doanh nghiệp sản xuất đầu vào trong nước.

Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011

GS Stephen Walt: Trung Mỹ và thế đối trọng ở châu Á

Nếu sức mạnh của Trung Quốc tiếp tục dâng cao, mối quan hệ Trung – Mỹ chắc chắn sẽ ngày một cạnh tranh hơn. Trung Quốc có lẽ muốn trở thành một siêu cường khu vực, còn Mỹ sẽ tìm cách ngăn chặn điều này.
GS Stephen Walt dạy quan hệ quốc tế tại trường Hành chính Kennedy, Đại học Harvard. Ông sẽ sang Việt Nam tham dự và phát biểu tại Lễ công bố 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam vào ngày 15/01 tới.
Tôi cũng đưa ra lưu ý rằng con đường dẫn tới vị trí siêu cường khu vực của Trung Quốc sẽ gian nan hơn so với con đường tương tự mà Mỹ đã đi qua, bởi khi đó tại Tây bán cầu không có cường quốc nào khác và cũng không tồn tại những rào cản lớn nào đối với sự bành trướng của Mỹ trong khu vực Bắc Mỹ. (Dĩ nhiên, Anh cũng có ảnh hưởng lớn tại Canada, song nhìn chung, thời điểm đó nước này vẫn đang bận tâm tới những sự kiện ở các nơi khác).
Trong khi đó, xung quanh Trung Quốc lúc này lại có tới vài cường quốc cỡ trung. Do vậy, một câu hỏi lớn đặt ra ở đây là liệu các quốc gia châu Á khác có muốn trở thành đối trọng với sức mạnh đang lên của Trung Quốc hay không, hay họ muốn "liên minh" với quốc gia này. Nếu giả thiết ban đầu đúng, việc kiềm chế Trung Quốc sẽ tương đối dễ; nhưng nếu giả thiết thứ hai đúng, sự lan tỏa từ từ của "tầm ảnh hưởng" của Trung Quốc có nhiều khả năng khó ngăn chặn.

Một điểm đáng ngạc nhiên là, tờ Times gần đây có đăng tải một bài viết khá thú vị về tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở Indonesia. Rất nhiều người dân Indonesia hiện đang đổ xô đi học tiếng Quan thoại, gác lại thái độ ác cảm với người Trung Quốc do các biến cố trong lịch sử. Xu hướng này vừa phản ánh sự trỗi dậy về tầm ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc lại vừa cho thấy nỗ lực của nước này trong việc đưa tiếng Trung ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia.
Vậy châu Á sẽ làm đối trọng hay làm liên minh với Trung Quốc? Trong bài viết trước về các liên minh, tôi có nói rằng xu hướng đối trọng sẽ phổ biến trên chính trường quốc tế, song các quốc gia yếu và/hoặc bị cô lập có lẽ sẽ nghiêng theo lựa chọn liên minh hơn. Do không thể tác động gì nhiều đến kết quả của các cuộc tranh đua mà lại có thể hứng chịu những hậu quả nặng nề từ đó, nên họ buộc lòng phải chọn theo bên nào có khả năng giành phần thắng.

Và trong khi các cường quốc thường quan tâm tới những lợi ích trên toàn cầu, các nước nhược tiểu lại lo lắng nhất về cán cân sức mạnh ngay trong khu vực của mình. Họ có thể đứng lên chống lại một quốc gia mạnh hơn nếu được đảm bảo rằng sẽ có "ông lớn" khác hậu thuẫn; nhưng một quốc gia yếu và đơn độc có lẽ sẽ chỉ còn cách "khom lưng" trước một "gã láng giềng" lớn mạnh hơn mình. Đó cũng là quá trình ra đời của "tầm ảnh hưởng".

Logic này hé lộ cho chúng ta biết điều gì về các sự kiện ở Đông Á trong tương lai? Một mặt, triển vọng đối trọng có lẽ tương đối khả quan. Tuy rằng Trung Quốc hiện có tiềm năng sức mạnh lớn nhất ở châu Á, nhưng khó có thể coi một số người bạn láng giềng của họ là "nước yếu" được.
Nhật Bản có nền kinh tế lớn thứ ba thế giới (tuy vẫn đang trải qua một giai đoạn phát triển trì trệ kéo dài), có năng lực hạt nhân tiềm tàng, và có sức mạnh quân sự riêng tương đối đáng nể. Mặc dù có dân số già, song vẫn khó mà đe dọa nổi Nhật Bản.
Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia dễ khuất phục, Ấn Độ có một tỷ dân và có năng lực hạt nhân, còn những quốc gia khác như Indonesia và Singapore thì sở hữu nguồn bất động sản quý giá, riêng Singapore còn có sức mạnh quân sự rất lớn nữa. 

Ngoài ra, dù có mạnh hơn hiện nay gấp nhiều lần đi chăng nữa thì Trung Quốc vẫn sẽ gặp khó khăn trong việc phóng tầm sức mạnh của mình sang các nước láng giềng, bởi họ sẽ phải vận dụng cả các năng lực hải quân, không quân, và thủy quân, chứ không chỉ riêng sức mạnh trên đất liền.
Và với một thực tế: Mỹ quan tâm tới việc ngăn chặn Trung Quốc thực hiện ước mơ làm bá chủ khu vực, thì các mục tiêu tiềm năng mà Trung Quốc muốn vượt qua để bước lên ngai vị thống trị sẽ có đồng minh là một siêu cường đứng sau sẵn sàng ra tay hỗ trợ.

Nhưng mặt khác, Mỹ cũng sẽ gặp một số rào cản lớn trong nỗ lực duy trì một liên minh phòng thủ tại Đông Á. Thứ nhất, các liên minh phòng thủ luôn có những khó khăn khi phối hợp hành động, bởi các thành viên trong liên mình đều muốn đùn đẩy gánh nặng chính sang nhau. Đây là một kẽ hở mà một cường quốc mới nổi tinh nhạy có thể khai thác; họ có thể áp dụng chiến thuật "chia để trị" trong lúc các đối tác (giả định) vẫn mải tranh cãi về chiến lược và chia sẻ trách nhiệm.
Thứ hai - đây cũng là nguyên nhân gần gũi hơn - là các khó khăn trong việc xác định mức độ hỗ trợ mà Mỹ cần cung cấp cho các đối tác châu Á nhằm giữ họ về "phe" mình. Nếu hỗ trợ quá ít, một số nước có thể sẽ bị Bắc Kinh "lôi kéo" vào một thỏa thuận nào đó. Nếu hỗ trợ quá nhiều, các đồng minh châu Á sẽ tha hồ mà "hưởng sái" của chú Sam.
Cộng thêm vào đó là nỗi ám ảnh kéo dài của Mỹ về sự tin cậy của liên minh và một thực tế rằng những liên minh này có động cơ để cường điệu hóa khả năng bắt tay với Trung Quốc (nhằm thuyết phục Washington xắn tay vào làm nhiều hơn nữa). Với tất cả những lý do trên, Mỹ rất có khả năng sẽ thực hiện những cam kết quá đà.

Thứ ba, như bài viết trên tờ Times đã đề cập tới, chiến lược "sáng sủa" nhất của Trung Quốc sẽ là đối thoại nhẹ nhàng, tập trung vào xây dựng các mối quen hệ về kinh tế và văn hóa với các nước láng giềng. Chính sách ngoại giao "mạnh bạo" của Trung Quốc là điều kiện thuận lợi giúp Washington duy trì được những mối quan hệ đối tác chặt chẽ ở châu Á; trong khi đó, nếu Trung Quốc kiên trì sử dụng "sức mạnh mềm", thì một số quốc gia châu Á có thể sẽ nghĩ rằng Bắc Kinh chính là làn sóng trong tương lai, và rằng sự thống trị của Trung Quốc cũng không có gì là quá đáng sợ cả. Ít nhất thì điều đó cũng khiến Mỹ phải nỗ lực hơn để bảo vệ vị trí hiện nay của mình.

Nói tóm lại, bài phân tích này muốn nêu lên một quan điểm rằng việc quản lý các mối quan hệ liên minh tại châu Á sẽ đòi hỏi nhiều sự chú ý cũng như công sức hơn so với việc quản lý các mối quan hệ tương tự ở châu Âu trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Nhiệm vụ này thậm chí sẽ còn gian nan hơn nhiều nếu chính phủ Mỹ lại đầu tư quá nhiều thời gian và tâm trí cho những khu vực có tầm quan trọng chiến lược "siêu vô bổ" như... Afghanistan chẳng hạn.
 

Vị đắng khi lệ thuộc vốn vay Trung Quốc

Nhiều dự án của Việt Nam phải thuê nhà thầu Trung Quốc bởi một lý do “bất khả kháng”: nguồn vốn vay từ chính Trung Quốc. Và khi dự án có vấn đề về chất lượng thì các chủ đầu tư Việt Nam chỉ còn nước “ngậm bồ hòn làm ngọt”
Cái khó xử khi nhận vốn của Trung Quốc
Trung Quốc không phải là nước thuộc nhóm cung cấp vốn hỗ trợ phát triển ODA lớn cho Việt Nam, cũng không phải là nước bỏ vốn đầu tư trực tiếp (FDI) thuộc TOP 10 ở Việt Nam.
Nếu tính theo số các dự án FDI còn hiệu lực, hơn 20 năm qua, FDI từ Trung Quốc chỉ có 3,184 tỷ USD,  đứng thứ 14 và chiếm 4% tổng vốn FDI của 92 quốc gia, vùng lãnh thổ đã đến Việt Nam. Riêng năm 2010, Trung Quốc  đứng thứ 11 với tổng vốn 364,6 triệu USD, chỉ chiếm hơn 1% tổng vốn FDI cả năm của Việt Nam.
Thế nhưng, thực chất, dòng vốn Trung Quốc chảy vào Việt Nam lại không hề nhỏ.
Cho tới nay, chưa có bộ ngành nào thống kê cụ thể, Việt Nam đã vay bao nhiêu tiền của Trung Quốc. Chỉ thấy rằng, ở hầu khắp các ngành công nghiệp, năng lượng của Việt Nam, vốn vay ưu đãi lãi suất thấp từ Trung Quốc đang đóng vai trò rất quan trọng, chủ yếu là từ đầu mối Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank).
Đơn cử như  ở ngành điện, trong tổng số 9 dự án nhiệt điện do Tập đoàn Than - Khoáng sản làm chủ đầu tư, hiện có 4 dự án vay vốn tín dụng xuất khẩu hoặc ODA của Trung Quốc.
Trung Quốc nhập vào các dự án điện chủ yếu thiết bị phụ (ảnh: L.M)
Đó là các dự án nhiệt điện Cao Ngạn, Sơn Động, Cẩm Phả, Mạo Khê đều chủ yếu vay tín dụng xuất khẩu của ngân hàng China Eximbank. Dự án có tổng vốn đầu tư ít nhất cũng hơn 3.500 tỷ đồng. Các dự án điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng vay từ ngân hàng này không hề ít, ví dụ như dự án nhiệt điện Quảng Ninh 1 và 2, dự án Hải Phòng 1 và 2, dự án nhiệt điện Uông Bí mở rộng…
Mới đây nhất, 18/12/2010,  Bộ Tài chính cũng đã ký hiệp định vay 300 triệu USD với China Eximbank cho dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (2 x600MW).
Trung bình mỗi dự án điện công suất 300MW trở lên của Việt Nam có tổng vốn đầu tư trên 500 triệu USD. Nếu dự án vay từ China Eximbank thì nguồn vốn này thường chiếm khoảng 85% tổng vốn đầu tư.
Như vậy, ước tính, tổng vốn vay của Trung Quốc chỉ riêng cho ngành điện Việt Nam đã là con số hàng tỷ USD.
Không chỉ là ngành điện, nguồn tín dụng ưu đãi của Eximbank còn có mặt ở nhiều dự án trọng điểm của các ngành công nghiệp khác. Ví dụ như ngành hóa chất với dự án đạm từ than cám Ninh Bình do Tổng công ty Hóa chất Việt Nam làm chủ đầu tư, cũng sử dụng nguồn vốn 500 triệu USD theo hiệp định tín dụng xuất khẩu ký với Trung Quốc. Dự án sản xuất khuôn mẫu và trục in nhựa của Tổng công ty Nhựa Việt Nam cũng vay tín dụng ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc trị giá 50 triệu Nhân dân tệ.
Trao đổi với PV. VEF, một lãnh đạo ở Bộ Công Thương từng chia sẻ, khi các nhà thầu Trung Quốc vào Việt Nam, nhận thấy điểm yếu là thiếu vốn, họ nhanh chóng đặt vấn đề: nếu phía Trung Quốc lo thu xếp vốn được cho dự án thì bù lại, hãy giao dự án đó để họ làm.
Với một lời đề nghị hấp dẫn như vậy thì quả thực, các chủ đầu tư Việt Nam khó lòng từ chối. Theo thông lệ quốc tế, khi đã nhận vốn vay của một nước, chủ đầu tư sẽ phải tổ chức đấu thầu hạn chế, chỉ mở thầu cho các nhà thầu nước cho vay tham gia. Đó là lý do bất khả kháng để các dự án lớn trên của Việt Nam phải chọn nhà thầu Trung Quốc và nhập khẩu lớn thiết bị, máy móc của nước này.
Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông
Nhưng lẽ thường, sự hấp dẫn của một chính sách về vốn như vậy bao giờ cũng có tính hai mặt. Chính sách vay vốn của Trung Quốc có thể rất  thông thoáng, nhưng đôi khi, cũng có vị đắng mà các chủ đầu tư Việt Nam chỉ còn nước “ngậm bồ hòn làm ngọt”.
Khâu xúc xỉ tại đáy lò ở nhà máy nhiệt điện (ảnh: L.M)

Một chuyên gia trong ngành cắt nghĩa với VEF rằng, ngân hàng của Trung Quốc - với tư cách là người thẩm định hồ sơ vay vốn, có quyền kiểm duyệt các điều kiện kỹ thuật trong dự án. Điều kiện đó liệu thích hợp với các nhà thầu của nước họ không? Từ đó, họ có quyền đòi hỏi phải hạ thấp một số tiêu chí để các nhà thầu Trung Quốc có cơ hội tham gia thì mới cho vay vốn.
Với kinh nghiệm 30 năm trong ngành điện, vị chuyên gia này phân tích, giả dụ hiệu suất lò hơi nhiệt điện trong hồ sơ mời thầu một dự án nhiệt điện than, nếu chỉ nâng lên 1% để đảm bảo chất lượng, thì ngay lập tức, hàng loạt các nhà thầu Trung Quốc sẽ bị rớt vì không đạt yêu cầu. Nhưng, chỉ cần hạ 1% hiệu suất lò hơi theo đề nghị của Ngân hàng Trung Quốc, giá thành máy móc, thiết bị đã giảm tới 20-30% . Vì yếu tố kinh tế đó, thông thường, cả bên đi vay và bên cho vay đều chấp nhận.
Một đặc điểm khác, theo vị chuyên gia này quan sát, trong hồ sơ mời thầu các dự án nhiệt điện, nếu chú trọng chất lượng, bao giờ cũng có câu,“yêu cầu thiết bị G7 hoặc chất lượng tương đương”. Nhưng với nhiều dự án nhiệt điện mà vay vốn Trung Quốc thì thường, những dòng chữ ghi điều kiện như vậy sẽ bị gạch bỏ. Đến khi dự án đi vào triển khai, chủ đầu tư Việt Nam sẽ vô cùng khó xử khi rơi vào tình huống phải chấp nhận các thiết bị kém chất lượng một cách miễn cưỡng.
Vị chuyên gia giám sát kỹ thuật tại một dự án nhiệt điện chia sẻ, căn cứ để giám sát chất lượng thiết bị nhập cho dự án chỉ có duy nhất 1 tờ giấy do nhà thầu cung cấp với tiêu đề  “QUALITY CERTIFICATE”, gọi là phiếu chất lượng. Nhưng, hình thức trình bày và  nội dung thông tin lại rất sơ sài.
Ở tờ phiếu chất lượng này, chỉ có tên thiết bị, nhà máy sản xuất, mã số đóng gói, mã số đặt hàng và dòng chữ đề thiết bị đã đạt chuẩn của nhà máy…, không có thông tin căn cứ theo một tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia nào. Phần ký xác nhận phiếu, lúc là giám đốc nhà máy ở Trung Quốc, lúc là một cán bộ thay mặt giám đốc ký.
Vị kỹ sư tại dự án này nhận định, các phiếu này giống như phiếu xuất xưởng. Nó đơn giản tới mức chẳng cần in phiếu ở Trung Quốc mà có thể in ra ngay tại công trường Việt Nam như một loại văn bản thông thường.
Trong khi đó, hợp đồng ký với nhà thầu Trung Quốc thường chỉ ghi, thiết bị đến công trường phải có “phiếu chất lượng”, nhưng không mô tả rõ, phiếu chất lượng ấy như thế nào. Rốt cục, khi các tài liệu chứng nhận chất lượng chỉ vỏn vẹn có thế, chính những người gác cửa về chất lượng dự án trở nên tù mù, bó tay để thẩm định thiết bị, và chỉ khi nhà máy vận hành, phát sinh trục trặc mới biết thiết bị ... kém cỡ nào.
Ban đầu, các giám sát viên có thể từ chối không nghiệm thu thiết bị kém chất lượng, nhưng rồi xảy ra tranh luận với nhà thầu và những áp lực từ nhiều phía... cộng với việc nhà máy lại vay vốn của chính Trung Quốc, các giám sát kỹ thuật của Việt Nam sẽ buộc “phải” nghiệm thu công trình dù chưa đạt yêu cầu. Bởi theo vị chuyên gia này, nếu không nghiệm thu thiết bị, vấn đề giải ngân vốn của dự án cũng gặp khó khăn.
Thực tế này cũng đã xảy ra với nhiệt điện Cao Ngạn cách đây 3 năm. Mặc dù nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư rồi, nhưng nhà máy này đã phải hoạt động trong tình trạng vừa chạy, vừa sửa chữa, cải tiến tiếp.
Từng trả lời trên VEF, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương cho rằng, phải tăng cường khâu giám sát thiết bị của Trung Quốc đến công trường, nhưng những câu chuyện trên đã cho thấy, khi chủ đầu tư lại là người đi vay của phía nước nhà thầu thì mọi sự thật khó. Việc nhận bàn giao nhà máy điện hay không đã biến thành câu chuyện trở đi mắc núi, trở lại mắc sông.

Đầu tư cái gì, ở đâu, như thế nào

Có một thời, khái niệm “tiến nhanh, tiến vững chắc” được râm ran bàn luận. Một lập luận thường được nêu ra: một chiếc xe càng chạy nhanh thì càng chịu lực ly tâm cao, chỉ cần bị một tác động nhẹ là có thể đổ nhào ngay thì làm sao mà vững chắc được!
Cần gia tăng đầu tư cho đồng bằng sông Cửu Long, nơi tạo ra của cải và nhân lực lớn hàng đầu của cả nước. Ảnh: Lê Quang Nhật
Thời đó, nền kinh tế chúng ta bắt đầu tăng trưởng nhanh, nhưng ngay liền đó là lạm phát phi mã. Mọi người đều thấy rõ nguyên nhân là do tiến nhanh “tràn lan” mọi lúc, mọi nơi, mọi lãnh vực, trong khi chưa có giải pháp đồng bộ. Khái niệm này còn kéo dài trong thập niên đầu thế kỷ 21 và kết quả được xem là “thần kỳ” với cái giá là thâm thủng ngân sách ngày càng lớn, cân thanh toán quốc tế – cân thương mại ngày càng mất cân bằng trầm trọng, nợ trong nước và nước ngoài ngày càng nhiều và nguy cơ lạm phát ngày càng gia tăng. Mọi người cũng đều thấy rõ nguyên nhân là tiến nhanh nhưng thiếu vững chắc, nói theo ngôn ngữ hiện đại là không bền vững.
Vấn đề vẫn là cái gì, ở đâu, như thế nào chưa được giải quyết triệt để.
Thông điệp đầu năm của Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh là trong năm năm tới, Việt Nam phải phát triển nhanh nhưng ưu tiên hàng đầu là phát triển bền vững, ổn định kinh tế vĩ mô và chống lạm phát. Bộ Kế hoạch và đầu tư cũng lên kế hoạch mục tiêu là “phát triển nhanh, bền vững”, xây dựng mô hình phát triển theo hướng hệ thống tài chính bền vững, gia tăng hỗ trợ khu vực nông thôn, các lãnh vực nông nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kế hoạch trên cho thấy, Chính phủ sẽ cải thiện hệ thống tài chính, đặt trọng phát triển tam nông, phát triển kinh tế tư nhân. Qua thông điệp và kế hoạch trên, chúng ta có thể thấy có một sự chuyển đổi sâu xa trong nhận thức và định hướng phát triển.
Ai cũng biết, để trở thành một nước phát triển, không thể không có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong một thời gian dài; không thể cứ tiệm tiến mà phải tiến nhanh để thu ngắn cách biệt với các nước giàu, để nâng đời sống vật chất người dân cao nhanh hơn. Không thể chỉ cần tốc độ tăng trưởng kinh tế mà phải trên các lãnh vực xã hội và bảo vệ môi trường phát triển bền vững cho tương lai, kể cả cho tương lai con cháu sau này. Không thể có chuyện “ăn xổi ở thì”, bạ đâu khai thác đó, nhất là đối với các tài nguyên không tái tạo hoặc rất chậm tái tạo, hoặc dễ gây những tác hại khác về môi trường, về an ninh cho phát triển bền vững.
Phát triển bền vững phải được xây dựng trên ba chân: tăng trưởng kinh tế ổn định với tốc độ nhanh có thể được, tăng trưởng con người nhanh hơn và dẫn đạo tăng trưởng kinh tế, môi trường được bảo vệ và cải thiện cho tương lai phát triển kinh tế và con người. Không thể có chuyện chỉ Nhà nước lo “làm giàu” mà Nhà nước cần làm sao để mọi người dân cùng chung tay làm giàu, làm sao để các nước bên ngoài cùng tham gia/giúp ta làm giàu. Kinh nghiệm cho thấy Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây nhất là Trung Quốc đều không thể làm giàu nếu chỉ có tập trung đầu tư bằng ngân sách nhà nước. Kinh tế gia của Nhà nước cần giỏi về kinh tế vĩ mô, nhưng trong lãnh vực kinh tế vi mô, xin nhường lại cho các nhà kinh doanh, dĩ nhiên với sự hỗ trợ về chính sách, về khung định chế và cơ chế của Nhà nước.
Chính phủ, mà cơ quan cố vấn về phát triển là bộ Kế hoạch và đầu tư, cần xác định tốc độ tăng trưởng của cái gì, ở đâu, như thế nào trên mỗi địa bàn của quốc gia.
Không thể có những ông bí thư tỉnh uỷ ra chỉ thị cho các sở ngành cấp tỉnh và chính quyền địa phương cấp huyện phải tăng trưởng kinh tế với tốc độ nào (thường là cào bằng với tốc độ tăng trưởng của cả tỉnh, theo nghị quyết Đại hội Đảng) bất chấp cơ cấu kinh tế của huyện.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều huyện thuần nông nhận được chỉ thị là phải tăng trưởng bình quân trong năm năm tới tối thiểu là 14%/năm, thậm chí đến 18%/năm với kỳ vọng là sẽ hình thành một khu công nghiệp vài trăm hécta mà chưa biết có đầu tư hay không và chừng nào đầu tư. Trong giai đoạn 2006 – 2010, nhiều huyện nhận được “tin” đầu tư của các tập đoàn quốc doanh, được tỉnh chỉ thị là phải xây dựng kế hoạch tăng tốc 18 – 20%/năm trên cơ sở nhường đất canh tác nông nghiệp cho công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thuyền, hay xây dựng bến cảng, hay xây dựng khu công nghiệp điện than… Hệ quả là tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giảm sút, đời sống nông dân khổ cực hơn mà khu công nghiệp thì sau đó được thông báo là… huỷ bỏ!
Kinh nghiệm cho thấy Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây nhất là Trung Quốc đều không thể làm giàu nếu chỉ có tập trung đầu tư bằng ngân sách nhà nước. Kinh tế gia của Nhà nước cần giỏi về kinh tế vĩ mô, nhưng trong lãnh vực kinh tế vi mô, xin nhường lại cho các nhà kinh doanh, dĩ nhiên với sự hỗ trợ về chính sách, về khung định chế và cơ chế của Nhà nước.
Chưa nghe nói ông, bà bí thư tỉnh đó chịu trách nhiệm gì về chỉ đạo sai. Trong giai đoạn 2011 – 2015 sắp tới, không biết có còn chỉ đạo như thế để các huyện xây dựng nghị quyết?
Không hiểu sau thông điệp của Thủ tướng và kế hoạch của bộ Kế hoạch và đầu tư, các huyện có được “cởi trói” khỏi các chỉ đạo kỳ quặc như trên không?
Cũng không thể có “đạp ga” tăng trưởng kinh tế bất chấp sự tồn tại yếu kém của kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế.
Theo các số liệu chính thức, trong giai đoạn 2006 – 2010, mặc cho khủng hoảng toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế 7%/năm, GDP đầu người năm 2010 đạt 1.162 USD, đưa Việt Nam vào danh sách quốc gia có thu nhập trung bình. Nhưng thử nhìn lại hệ thống đường sá cầu cống cấp quốc lộ, hệ thống vận chuyển đường sông, hệ thống thuỷ lợi của vùng nông nghiệp lớn nhất, hệ thống cung cấp điện lưới và nước sạch cấp quốc gia, hệ thống thoát nước tại các thành phố lớn nhất, có lẽ không ai không thấy sự bất cập, khiếm khuyết, xuống cấp, tắc nghẽn ngày càng trầm trọng; hệ quả là hàng hoá đầu ra bị ức chế giá, vật tư đầu vào bị nâng giá, thu nhập của nông ngư dân bị tước đoạt, chậm được cải thiện. Hệ thống trường lớp từ nhà trẻ đến đại học, hệ thống y tế từ tổ y tế cấp ấp đến bệnh viện, tuy được mở ra đều khắp nhưng dân nghèo rất khó tiếp cận được các dịch vụ phúc lợi công cộng này; giáo dục phổ cập mà phải đóng đủ thứ loại tiền dưới nhiều hình thức; bệnh viện công mà phải đóng viện phí qua các hình thức dịch vụ hoặc không được hưởng bảo hiểm y tế.
Không thể đổ thừa cho ưu tiên tăng trưởng nhanh nền kinh tế khiến mọi nguồn lực đều đổ dồn cho những đầu tư các cơ sở công thương nghiệp. Không thể lợi dụng sự tích cực đầu tư của dân mà lơ là đầu tư cho nông nghiệp và hạ tầng phúc lợi. Không thể vì thành tích mà dồn sức đầu tư cho các đại công trình, lãng quên các công trình giao thông thiết yếu như quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn, và nhất là những cây cầu nhằm phá thế cù lao của các tỉnh, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi tạo ra của cải và nhân lực lớn hàng đầu của cả nước.
Hoan nghênh tinh thần thông điệp của Thủ tướng và kế hoạch của bộ Kế hoạch và đầu tư. Nhưng thông điệp và kế hoạch trên cần sớm triển khai chi tiết cơ cấu đầu tư cái gì, ở đâu, như thế nào trên mỗi địa bàn của quốc gia, các vấn đề cải tổ đầu tư công, đầu tư của khu vực tư, cải tổ ba công cụ tài chính: thuế, lãi suất và tỷ giá, cải tổ năm hệ thống căn bản điều hành quốc gia: hành chính, luật pháp, ngân sách, tiền tệ và ngân hàng.
Không thể có phát triển bền vững nếu chưa có cải tổ cơ cấu đầu tư, các công cụ tài chính và các định chế căn bản để điều hoà nhịp “máu” cho cơ thể kinh tế xã hội.

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Trung Quốc đầu tư 2 tỷ USD ở Bắc Triều Tiên

Tờ báo Hàn Quốc JoongAng Ilbođ đưa tin, công ty nhà nước của Trung Quốc Shangdi Guanqun Investment đã đồng ý đầu tư 2 tỷ USD vào khu kinh tế tự do tại thành phố Rason của Triều Tiên.



Theo tờ báo, đại diện của Shangdi Guanqun Investment đã ký một bản ghi nhớ với Tập đoàn Investment and Development Group vào ngày  20 Tháng 12 năm 2010. Mục đích chính của các bên, theo bản ghi nhớ đó là biến khu kinh tế tại Rason thành khu công nghiệp lớn nhất khu vực Đông Bắc Á trong mười năm tới.
Theo đại diện Shangdi Guanqun Investment, trước hết phải xây dựng một nhà máy chế biến than, đường sắt, đường cao tốc và cảng tại khu kinh tế này. Người ta cho rằng, công ty Trung Quốc sẽ đầu tư vào khu chế xuất hơn 300 triệu USD trong giai đoạn đầu. 
Trong tháng 1 năm 2011 chính quyền Triều Tiên đã trao quy chế
Trong tháng 1 năm 2011 chính quyền Triều Tiên đã trao quy chế "thành phố đặc biệt" cho Rason, theo đó hầu hết các hạn chế về kinh doanh sẽ được dỡ bỏ.
Rason là thành phố giáp ranh với tỉnh Cát Lâm của Trung Quốc và vùng lãnh thổ Primorsky ở Nga. Từ năm 1991 thành phố này nhận được quy chế của khu kinh tế đặc biệt. Trong tháng 1 năm 2011 chính quyền Triều Tiên đã trao quy chế "thành phố đặc biệt" cho Rason, theo đó hầu hết các hạn chế về kinh doanh sẽ được dỡ bỏ.

Shangdi Guanqun Investment được chính quyền Trung Quốc thành lập vào năm 1995. Đây là công ty chuyên chế biến dầu thô, khoáng chất, và kinh doanh các dịch vụ tài chính quốc tế.
Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Triều Tiên (Investment and Development Group) chịu trách nhiệm phát triển các khu chế xuất của đất nước. Ngoài Rason, Bắc Triều Tiên còn có thêm ba khu kinh tế đặc biệt là Kaesong, Sinychzhu và vùng núi Kumgang.

Xuất khẩu tôm 2011 sẽ đạt trên 2 tỷ USD

Ủy ban Tôm của VASEP (Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam) cho biết, năm 2010 là một năm thành công của ngành hàng tôm VN, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD.

Ủy ban này cho biết, với con số này, kim ngạch xuất khẩu năm 2010 của con tôm tăng khoảng 20% về giá trị và 15% về số lượng. Giá tôm xuất khẩu năm qua luôn ở mức cao, bình quân là 8.530 USD/tấn, cao gấp 1,7 lần so với cùng kỳ năm trước.
Đây là điều khá bất ngờ trong bối cảnh nền kinh tế thế giới dù đã hồi phục nhưng còn nhiều khó khăn. Trong khi đó, nhu cầu tôm trên thị trường thế giới năm 2011 được nhận định là vẫn tốt. Kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2011 của VN dự báo sẽ ổn định khoảng 2,1-2,2 tỷ USD, phấn đấu đến năm 2015 sẽ là 3 tỷ USD.

Cần phát huy vai trò của những “anh cả” trong nền kinh tế

Điện, than, dầu khí, dệt may và hóa chất cùng các tổng công ty cần phải tính tới cơ cấu sản xuất và đầu tư để đến 2020 có được một nền kinh tế tự chủ.
Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã chỉ đạo như vậy tại Hội nghị tổng kết ngành Công thương sáng 7/1. Đại diện các tập đoàn và tổng công ty lớn đã có ý kiến về giải pháp thực hiện kế hoạch năm 2011. 
Tiết kiệm điện: phải thực sự căn cơ
Theo dự báo, năm 2011 khô hạn vẫn diễn ra trên diện rộng. Đến thời điểm 31/12 là hết mùa tích nước nhưng đến giờ nhiều hồ lớn không tích đủ nước trong khi lượng nước cần có là 2,9 tỷ m3. Đây là năm đầu tiên lượng nước ở các sông ở mức thấp nhất.
Ông Đặng Hoàng An- Phó tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, để đáp ứng nhu cầu điện cho nền kinh tế, EVN sẽ đẩy nhanh các dự án điện, 6 tháng đầu năm đưa vào hoạt động tổ máy của Sơn La, Đồng Nai 3, Yuna nak để được khoảng 1.000kwh; các dự án nhiệt điện than cũng sẽ được trưng dụng các tổ máy.

Bên cạnh đó, ngành điện cũng sẽ bố trí lại lịch sửa chữa, đảm bảo nhập khẩu điện một cách tối đa. Huy động tối đa các nguồn điện giá cao như than, dầu... Đồng thời, EVN cũng đang tăng cường chiến dịch tuyên truyền tiết kiệm nước, tiết kiệm điện, đặc biệt là ở một số ngành lớn như thép, xi măng. Trong tháng 1 và quý 1/2011, EVN sẽ đảm bảo đủ điện cho Tết và các ngày lễ, đại hội Đảng; đảm bảo xả nước cho nông nghiệp.
Ông Đặng Hoàng An đặc biệt nhấn mạnh đến các giải pháp tiết kiệm điện. Theo ông An, bình quân 5 năm gần đây hệ số tăng trưởng điện so với tăng trưởng GDP vẫn là 2 lần. Nghĩa là cứ tăng trưởng 1% GDP thì phải mất 2,02% điện. Ông An đưa ra dẫn chứng: riêng ngành thép, xi măng mỗi năm tiêu thụ khoảng 10 tỷ kwh điện, sang năm 2011 dự kiến hai ngành này tiêu thụ khoảng 11 tỷ kwh. “Tiềm năng tiết kiệm điện của 2 ngành này rất lớn, bằng việc áp dụng kiểm toán năng lượng, cải tiến dây chuyền sản xuất, lắp biến tần, cải tạo chiếu sáng. Chỉ cần tiết kiệm được 1% trong 2 ngành này chúng ta đã tiết kiệm được một sản lượng điện khá lớn. Với tình hình tiêu thụ điện như hiện nay chúng ta sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu sơ cấp quá sớm” – ông An nói.
Phát biểu góp ý cho ngành điện, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh: Phải có kế hoạch, đảm bảo cung ứng cho sản xuất, phải có dự phòng, hạn chế cung cấp cho những dịch vụ xa xỉ như sục bể bơi nước nóng.. . Cần đưa ra áp lực để cải tiến, đổi mới cho sản xuất, tiêu dùng trong sử dụng điện để hình thành một nền kinh tế hiện đại. Ví dụ đến 2020 làm sao tỷ lệ phát triển điện với nền kinh tế là 1-1.
Theo Phó Thủ tướng, Việt Nam có tốc độ phát triển nhanh nhưng lại tiêu thụ điện rất nhiều. Nguyên nhân là chúng ta nhập khẩu công nghệ lạc hậu, chưa có cơ cấu hợp lý. Nếu giả sử giảm được 10-15% sản lượng điện cần thiết, kể cả thiết bị tiêu dùng thì có thể tiết kiệm được 10-15 tỷ kwh/năm, bằng công suất của 3 nhà máy thủy điện lớn nhất Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu.
Phó Thủ tướng đặt câu hỏi: Một nền kinh tế mà cả sản xuất và tiêu dùng điện ghê gớm như vậy thì là phát triển không bền vững, không thể đáp ứng kịp. Nước đâu để chạy thủy điện, gió đâu để làm phong điện, vốn đâu ra? Tăng trưởng ngành điện 15-16%/năm nhưng cũng không thể đáp ứng cho nền kinh tế.

Đề nghị thực hiện cơ chế thị trường với than và xăng

Ông Trần Xuân Hòa- Tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) kiến nghị, Chính phủ cho phép TVK xuất khẩu than cám nhiệt năng (than loại 6-7). Hiện tổng dự trữ kho là 6,5 triệu tấn (trong khi năng lực kho chứa chỉ được 5 triệu tấn). Nếu không xuất khẩu được thì năm 2011, TKV chỉ sản xuất 33 triệu tấn than nguyên khai. Số lượng này chỉ đáp ứng được cho điện, còn xi măng chỉ cung cấp được khoảng 55% nhu cầu. “Nếu sản xuất ít, lại không được tăng giá thì ngành than sẽ lỗ trên 5.000 tỷ đồng và 30.000 lao động không có việc làm” – ông Hòa nói.
Từ các lý do trên, ông Trần Xuân Hòa đề nghị cho TKV tiếp tục được thực hiện bán than theo giá thị trường bởi theo lộ trình quy hoạch mà tập đoàn đã thông báo thì đến năm  2015 những loại than mà TVK xuất khẩu trong nước vẫn chưa có nhu cầu, trong khi để đảm bảo kế hoạch khai thác đến 2015 ngành than cần 39.000 tỷ đồng vốn đầu tư.
Về mặt hàng xăn dầu, ông Bùi Ngọc Bảo- Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết: “Năm 2010 là năm đầu tiên thực hiện Nghị định 84/ 2009/NĐ-CP theo cơ chế thị trường đối với mặt hàng xăng dầu. Đây cũng là năm giá cả thay đổi ít nhất, chỉ điều chỉnh giá 4 lần (2 lần tăng, 2 lần giảm giá). Nhưng cũng chính vì không được điều chỉnh giá theo thị trường nên đây chính là yếu tố không thể thực hiện theo Nghị định 84”.
Vì là năm đầu nên sự chuẩn bị để xăng dầu kinh doanh theo giá thị trường, nên hầu hết các bộ quản lý chưa chuẩn bị kỹ hướng dẫn để nghị định vận hành. Vì thế, khi đi vào thực tiễn việc điều hành rất lúng túng, đặc biệt là việc sử dụng quỹ bình ổn giá, bù giá từ quỹ bình ổn…
Cũng chính vì Nghị định 84 không vận hành được nên ngoài áp lực giá không theo cơ chế thị trường còn có áp lực xăng dầu bị xuất lậu qua biên giới rất lớn. Thậm chí còn lớn hơn những năm trước. Cụ thể trước đây, xăng dầu chỉ thẩm lậu qua biên giới Lào, Campuchia, nhưng nay do giá diezen và xăng tại Việt Nam chênh lệch với giá xăng dầu Trung Quốc rất lớn nên xảy ra hiện tượng thẩm lậu xăng dầu trên toàn bộ các tuyến biên giới.
Hiện nay kinh doanh xăng, dầu lỗ khoảng 2.400 đồng/lít. Vì thế ông Bảo cho rằng, nếu không áp dụng triệt để kinh doanh xăng dầu theo giá thị trường thì áp lực bù lỗ cho xăng dầu rất lớn và có có thể gây hiện tượng khan ảo nguồn cung như năm 2008. “Vì các đầu mối không nhập nên áp lực đổ dồn cho Petrolimex” – ông Bảo phân tích.
Ông Bảo kiến nghị: Nhà nước và Chính phủ nên kiên định thực hiện Nghị định 84, vận hành kinh doanh xăng dầu theo giá thị trường; có hướng dẫn và cơ chế sử dụng quỹ bình ổn, không để xảy ra việc dùng quỹ bình ổn để bù lỗ như hiện nay. Bởi việc sử dụng quỹ bình ổn như hiện nay ngày càng xa mục đích như Nghị đinh 84 đặt ra. Đây là quan ngại rất lớn cho doanh nghiệp.
Vẫn là cái vòng luẩn quẩn
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nêu ra 2 thách thức lớn mà đất  nước nói chung và ngành Công thương nói riêng phải đối mặt, đó là: cơ cấu kinh tế chưa thật vững, hiệu quả chưa cao, mất cân đối và tính hiệu quả của nền kinh tế nội địa chưa tốt. 
Theo Phó Thủ tướng, việc cân đối về chất lượng còn nhiều điểm đáng bàn. Như sản xuất điện vẫn còn yếu, xăng dầu vẫn phải nhập chưa sản xuất đủ trong nước, an ninh năng lượng là vấn đề nóng. Phân bón, thuốc trừ sâu và bảo vệ thực vật cũng còn thiếu; công nghiệp máy móc, thiết bị, cơ khí vẫn cơ bản phải nhập khẩu từ máy xây dựng tới máy móc khai khoáng, kể cả một số ngành đã nội địa hóa nhưng vẫn rất ít…
Việt Nam vẫn phải nhập đến 90% phụ liệu cho ngành dệt may.
“Khả năng chỉ có vậy nên dẫn tới câu chuyện nhập khẩu nhiều, thiếu ngoại tệ, gây sức ép lên tỷ giá, lãi suất và tạo ra tăng giá. Đây thực sự là một vòng luẩn quẩn chưa gỡ được. Tăng trưởng về số lượng mà không đi đôi với chất lượng là không được”.
Phó Thủ tướng cũng đặt câu hỏi, ngành cơ khí của Việt Nam đã phát triển đáp ứng cho nền kinh tế chủ động hội nhập quốc tế hay chưa?” Khoảng 90% nhập khẩu là vật tư, thiết bị, máy móc phụ tùng, nguyên nhiên vật liệu. Điều này khiến ta chưa thể hoàn toàn yên tâm chủ động hội nhập khi thế giới có những biến động” – Phó Thủ tướng nói. 
Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát lại danh mục đầu tư để cơ cấu lại danh mục đầu tư hợp lý theo hướng đảm bảo chất lượng. Phó Thủ tướng nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường nội địa, đồng thời cần quan tâm mở rộng thị trường quốc tế./.

Ẩn số năm 2011

Nếu giữa doanh nghiệp và ngân hàng không tìm được “tiếng nói chung”, không trở thành “bạn đồng hành” đúng nghĩa, thì điều đó không chỉ là nguy cơ cho riêng họ mà còn là thảm họa chung cho cả nền kinh tế.
Không thể có giải pháp cầu toàn cho mọi vấn đề
Kinh tế Việt Nam đã nói lời chia tay năm 2010 với ngổn ngang nhiều mối lo toan. Suốt năm 2009 và những tháng đầu năm 2010, cả nước dồn sức tập trung chống suy thoái, kích cầu đầu tư - tiêu dùng, tăng cường bảo đảm an sinh xã hội. Nhưng từ giữa năm 2010 trở đi bắt đầu xuất hiện tình trạng bất ổn vĩ mô do diễn biến bất lợi từ sự khuynh đảo liên tục của cơn sốt giá vàng quốc tế và trong nước, kéo theo sốt tỷ giá đô la.
Kể từ Quí 4/2010 lạm phát bát đầu tăng tốc, vượt chỉ tiêu khống chế cả năm. Lãi suất chưa kịp giảm đã tăng trở lại. Ám ảnh về sự biến động tiền tệ tương  tự như năm 2008 có nguy cơ xuất hiện, gây đình trệ toàn bộ nền kinh tế nếu không kịp thời có những quyết sách hiệu quả.
Một năm buộc phải liên tục đối mặt với những cung bậc thăng trầm, biến cố đan xen, phức tạp, bất ngờ... khiến mọi người băn khoăn tự hỏi liệu đến khi nào nền kinh tế nước ta mới có thể tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, đủ thế và lực đế ổn định phát triển?
Tuy nhiên, lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy không hề có giải pháp “cầu toàn” cho mọi vấn đề. Trong quản lý, điều hành kinh tế, chân lý này dường như càng thể hiện rõ nét hơn.
Giữa lúc kinh tế quốc tế nói chung và các nền kinh tế chủ chốt thế giới nói riêng (Mỹ/Châu Âu/Nhật Bản) bị tấn công cùng lúc do tình trạng suy thoái kéo dài và thâm thủng nợ công nặng nề, nó tựa như một loại “dịch bệnh ác hiểm” có nguy cơ lây lan toàn cầu, tác động tiêu cực trước hết đến những nền kinh tế dễ bị tổn thương.
Với mô hình kinh tế có "độ mở" cao, nhất là trên lĩnh vực giao thương, đầu tư nước ngoài, kết nối sâu hơn vào WTO... Việt Nam đang trở thành một trong số những nước có khả năng bị ảnh hưởng mạnh bởi môi trường kinh tế hội nhập. Đặc trưng quan trọng này buộc chúng ta phải tư duy lại một số quan điểm điều hành chính thống từ trước đến nay. Đó là phải biết “chung sống hòa bình” với môi trường toàn cầu hóa, chỉ có thể tìm kiếm sự ổn định lâu dài một khi biết chấp nhận sự bất ổn thường xuyên từ tác động bên ngoài.
Sức đề kháng của một quốc gia mạnh hay yếu không chỉ quyết định bởi việc quốc gia đó tận dụng tốt những cơ hội do hội nhập mang lại mà còn phụ thuộc vào việc biết cách hóa giải những “đòn phép” thử thách khắc nghiệt của cơ chế cạnh tranh toàn cầu. Suy cho cùng, mọi nguy cơ bất ổn bất kể xuất phát từ đâu cũng cần phải được đề cao cảnh giác, tuy nhiên vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng hơn nếu những bất ổn đó phần lớn bắt nguồn từ chính nội lực yếu kém do bản thân nền kinh tế tạo ra.
Doanh nghiệp - ngân hàng phải là bạn đồng hành
Nhiệm vụ cấp bách hàng đầu hiện nay là phải nghiêm túc nhận diện, bắt mạch đúng thực trạng của nền kinh tế, ban hành những giải pháp đồng bộ cùng những kế hoạch mang tầm vóc dài hạn, thay cho những kế hoạch ngắn hạn nhất thời, mang tính đối phó, nhằm củng cố toàn diện khả năng cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế đất nước. Quan điểm, chủ trương nhìn chung đã rõ, không thiếu, không hẳn đã lạc hậu, nhưng “tồn tại của mọi tồn tại” vẫn là năng lực tổ chức thực hiện chính sách.
Dư luận trong thời gian qua rất băn khoăn về khả năng “phối hợp tác chiến” giữa các cơ quan điều hành, nhất là trên những lĩnh vực quan trọng có liên quan đến ổn định vĩ mô như chính sách tài khóa - tiền tệ - ngân hàng.
Năm 2010 có lẽ là một trong những năm chứng kiến nhiều thử thách đối với năng lực “PR chính sách” (quảng bá, giải thích chính sách) của các cơ quan điều hành. Trong bối cảnh có quá nhiều biến động, dễ gây tâm lý bất ổn, bầy đàn, dư luận trở nên rất nhạy cảm trước những phản ứng chính thức (cả phát ngôn và hành động) của các nhà điều hành chính sách. Đây được xem như “hàn thử biểu” có tác động lớn đến xu hướng vận động và điều chỉnh hành vi ứng xử của các chủ thể trên thương trường.
Nhìn lại năm vừa qua, nhiều sự việc lẽ ra được giải quyết hợp lý hơn, góp phần bình ổn thị trường tốt hơn, nhưng thực tế lại không làm được, hoặc làm không kịp thời, không có hiệu quả (liên quan đến giá vàng, đô la Mỹ, lãi suất ngân hàng... ). Một trong những nguyên nhân chính là do khâu “PR chính sách” chưa thực sự chuyên nghiệp.
Mặt khác, đã đến lúc cơ quan lập pháp là Quốc hội cũng cần nghiên cứu hoàn thiện sớm quy trình pháp lý về trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý vĩ mô. Nếu chủ động cung cấp thông tin, tiến hành điều trần kịp thời, giải thích thấu đáo chủ trương chính sách thì sẽ củng cố được lòng tin của công luận, tạo ra hiệu ứng tích cực trên nhiều mặt. Công khai minh bạch tất nhiên không thể một sớm một chiều thực hiện được, tuy nhiên “văn hóa công khai minh bạch” nên được tuyên bố rõ ràng, tránh lấp lửng. Ví dụ câu chuyện giải trình về số tiền chi tiêu cho đại lễ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, chỉ vì không chủ động thông tin đến nơi đến chốn đã làm phát sinh dư luận nhiều chiều gây mất lòng tin.
Những vấn đề của năm 2010 trên thực tế đang để lại nhiều gánh nặng cần xử lý cho năm 2011, trước hết là đối với các doanh nghiệp, hệ thống các ngân hàng thương mại. Những biến cố, bất ổn phát sinh trong thời gian vừa qua càng làm rõ hơn vai trò của hai “nhân vật chủ chốt” (doanh nghiệp/ngân hàng) trong tiến trình thiết lập sự ổn định vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Tác động của lãi suất/tỷ giá tăng cao đột biến, tình trạng khan hiếm vốn, ảnh hưởng tiêu cực của “não trạng hai giá” đang làm biến dạng, méo mó thị trường, nếu để kéo dài sẽ có nguy cơ làm xói mòn những thành quả đổi mới mà nền kinh tế đã phải vật vã trong nhiều thập kỷ mới gầy dựng được.
Đã đến lúc hệ thống ngân hàng thương mại cần phải nghiêm túc với chính mình, có trách nhiệm xử lý hài hòa bài toán “lợi nhuận/trách nhiệm xã hội”. Cũng cần nhấn mạnh rằng, nếu giữa doanh nghiệp và ngân hàng không tìm được “tiếng nói chung”, không trở thành “bạn đồng hành” đúng nghĩa, thì điều đó không chỉ là nguy cơ cho riêng họ mà còn là thảm họa chung cho cả nền kinh tế.
Thiết nghĩ đây là một trong những ấn số lớn nhất của năm 2011 cần sớm được mổ xẻ, phân tích và giải quyết. Và có lẽ, trách nhiệm trước hết thuộc bản thân mỗi doanh nghiệp/ngân hàng thương mại cùng với vai trò chủ ta không thể thoái thác của Ngân hàng Nhà nước.

Bài đăng phổ biến