Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc bổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc bổ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

Nấm linh chi và cách sử dụng hiệu quả, thiết thực

Đôi điều về nấm linh chi

Linh chi là những loại nấm (Ganoderma sp) có nhiều tác dụng tốt nhưng sử dụng linh chi như thế nào, cách dùng có đúng hay không mới khẳng định được thế nào là thuốc hay, thuốc tốt, có hiệu quả?

Trên thị trường thuốc Việt Nam, phổ biến thường gặp linh chi Hàn Quốc, đó là nấm linh chi được chế biến thành thương phẩm, đóng gói bằng những túi nilon dày, gắn kín, bên trong đựng khoảng 20 cái nấm to dày, khối lượng trung bình 200-300 gam đã sấy khô, mặt trên có màu vàng xậm láng bóng, mặt dưới xốp màu trắng phớt, in chữ Made in Korea. Sản phẩm nhập vào Việt Nam là trào lưu mậu dịch giữa Việt Nam - Hàn Quốc thông qua Công ty Dược liệu Trung ương I ở Giáp Bát, Hà Nội. Cũng có một số giống linh chi khác có khối nấm mỏng hơn, màu đen hoặc đỏ. Có thứ mọc dại trên thân cây lim khô, cuống nấm dài chừng 6-8 cm, mọc lệch một bên tạo nên tán nấm hình thận dày 5-8 mm, mặt trên có màu vàng sậm, láng bóng, có nhiều vành thẫm như màu sô-cô-la, chạy gần như song song, gặp nhau ở cuống, mặt dưới xốp màu vàng nhẹ. Toàn thân cây nấm cứng như gỗ, thứ nấm này mọc lẻ tẻ, đơn độc trên thân những cây lim đã bị đốn tại những khu rừng lim, ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Linh chi cũng đã được trồng với quy mô sản xuất nhỏ tại Viện Công nghệ sinh học Việt Nam.

Theo phân loại của Lý Thời Trân trong sách Bản thảo Cương mục có 6 loại linh chi: Hoàng chi, Hồng chi, Thanh chi, Bạch chi, Tử chi và Hắc chi. Đó là các loại linh chi màu vàng, đỏ, xanh, trắng, tím và đen. Mỗi loại được sử dụng với mục tiêu làm thuốc khác nhau. Ở đây, chỉ đặt vấn đề sử dụng loại linh chi thường gặp là Hoàng linh chi (Ganoderma luxidum).

Hoạt chất trong nấm linh chi

Hoạt chất là chất hoạt động, những chất này khi có mặt trong cơ thể người sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm những phản xạ sinh học của tổ chức, dẫn đến thúc đẩy hay kìm hãm những hoạt động sinh lí toàn thân. Hoạt chất của linh chi là tổ hợp những saponin triterpenic và những polisacharis hoạt hóa, có mặt một chất quan trọng là germany, thứ đến là tổ hợp các nhân tố vi lượng: acid ganoderic, đồng, vanadium, kẽm...

Gọi là tổ hợp vì hoạt chất trong linh chi có cơ cấu khéo léo dưới dạng hữu cơ, dễ thấm sâu vào hệ thống tế bào của tổ chức cơ thể người theo nguyên tắc đồng điệu sinh học. Khi đó những nhân tố hữu cơ có hoạt tính sinh học từ thực vật bậc thấp, biến thành những nhân tố hữu cơ sinh học có hoạt tính trong cơ thể người và hình thành những kho tổng hợp các dưỡng chất vi lượng tinh túy, được lưu giữ tại một số mô của cơ thể và tùy theo nhu cầu, những dưỡng chất vi lượng này sẽ được cơ thể người đưa vào sử dụng. Đã có sự hình thành các kho dự trữ, thì nguyên liệu trong các kho này cần thiết phải luôn luôn được thay đổi, theo sự luân chuyển không ngừng của hệ tuần hoàn máu và bạch huyết phù hợp với nhịp sinh học, khiến cơ thể luôn luôn được mới hóa mọi khâu, đáp ứng tốt trước mọi sự biến đổi phức tạp của môi trường sống, vốn rất đa dạng và phong phú.

Dược tính của nấm linh chi

Cơ thể người tùy cơ vận dụng từng chùm các yếu tố vi lượng, như germani, kẽm, các saponin... tham gia vào những quá trình diễn biến hóa sinh trong nội mô các tổ chức cơ quan, bù đắp những yếu tố cơ thể còn thiếu, không tự tổng hợp được; thải loại các nhân tố gây độc, thanh lọc dịch thể, làm cho máu và bạch huyết điều hòa lưu thông, trao đổi hấp thụ được đầy đủ oxy, mang được hồng cầu tươi mới, nuôi dưỡng và bảo vệ tốt mạng lưới gen và tế bào trong toàn thân.

Từ cổ chí kim, linh chi được coi là thuốc có tác dụng hòa hoãn. Với người huyết áp thấp nó giúp lên ngưỡng bình thường, huyết áp cao nó giúp hạ xuống; người bị tiểu đường nó giúp hạ mức đường huyết xuống. Linh chi không có vai trò cung cấp đạm mà cung cấp những nhân tố hữu cơ, vi lượng cho cơ thể, bổ sung những nhân tố quan trọng, chống lại hoặc loại trừ các nhân tố xấu gây tăng trưởng các mầm bệnh.

Linh chi là loại thuốc đứng đầu trong các loại thuốc quý, trên cả nhân sâm, do hàm lượng hoạt chất kích thích, khôi phục, giữ thăng bằng hệ thống miễn dịch cho cơ thể nhiều hơn nhân sâm từ 6 đến 8 lần; trước tiên là điều hòa toàn diện các hormon, đồng nghĩa với việc giữ cho con người khỏe mạnh, tạo ra sự trẻ trung, tránh được hầu hết những loại bệnh xơ mỡ động mạch, huyết áp thấp, huyết áp cao, xơ gan, viêm gan, rối loạn chức năng thận, rối loạn thần kinh, tinh thần, liệt dương, lão hóa sớm, alzheimer (suy giảm trí nhớ, luộm thuộm, hay nhầm, hay quên), đột qụy; u xơ tiền liệt tuyến, u xơ tử cung, đại tràng, trực tràng...

Năm 2011, dược điển các nước Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ cũng vẫn xác định linh chi hoàn toàn không có tác dụng phụ và chống chỉ định.

Với những lợi ích như đã nói ở trên, người ta coi linh chi như một vị thuốc cải lão hoàn đồng, làm cho cơ thể con người trẻ mãi không già. Nếu tuổi trẻ đã sử dụng thuốc này thường xuyên và đúng cách, cộng với một chế độ dinh dưỡng đúng mực, con người ta luôn ở trạng thái khỏe mạnh. Nếu chẳng may gặp phải những tai nạn khách quan thì khả năng lành bệnh sau phẫu thuật cũng nhanh hơn, tốt hơn, tuổi thọ có thể trên dưới 100 là bình thường.

Linh chi tốt như vậy nhưng ngày nay hầu như người ta sử dụng không đúng cách, có thể nói là rất nhiều người không biết dùng. Người thì lạm dụng quá mức, người thì suốt đời lại không có một lần nào được biết đến linh chi. Cả hai khuynh hướng đó đều không đúng. Sẽ là rất lãng phí nếu ta chỉ sắc lên, uống thoải mái như uống nước chè, nước vối, không tính đến liều lượng. Biết rằng, với hoạt động sinh lí bình thường, cơ thể ta hấp thu bất kì thứ gì dù cao lương mĩ vị đến đâu thì nó cũng chỉ lưu giữ lại trong người có thời hạn, rồi phải đào thải hết. Còn nếu chỉ nếm một lần một lượng nhỏ rồi thôi thì cũng chẳng giải quyết được gì vì bất kì loại thuốc nào cũng đòi hỏi phải sử dụng tới một liều nào đó đủ ngưỡng thì hoạt lực tác dụng mới được thể hiện. Chúng ta biết chắc một điều là linh chi không thể coi là thứ dùng tẩm bổ như thịt bò, thịt gà, cao ngựa, cao trăn... ăn vào bổ dưỡng lên cân. Mà hoàn toàn nó phải được coi là một thứ gần như vacxin, một thứ men nguồn gốc thiên nhiên thực vật, được sử dụng bằng đường uống, thường xuyên hấp thu vào cơ thể, nó có giá trị kích thích làm thăng bằng, khôi phục các quá trình hoạt động sinh học bình thường của các tổ chức và cơ quan, tạo ra hình ảnh những con người, nam cũng như nữ, trẻ cũng như già, có cơ thể quanh năm luôn ăn khỏe, ngủ khỏe, làm việc khỏe... Muốn thế hãy lựa chọn, tạo ra cho mình những sản phẩm có linh chi, uống hàng ngày theo một liều độ thấp. Một trong những thí dụ đó là thứ thuốc ngọt có tên Mật ong linh chi.

Chế tạo cao lỏng từ nấm linh chi

Nguyên liệu: 3 lạng linh chi, 2 lạng tam thất, 1 lạng nhân sâm và nửa lạng đương quy. Tất cả đều thái mỏng.

Bước thứ nhất: Dùng một cái nồi nhôm loại 5 lít, xếp linh chi, tam thất vào và cho nước ngập nguyên liệu chừng 2 cm, đun sôi trong 20 phút. Chắt kiệt và lọc bằng vải màn lấy nước ra một nồi riêng, cô đặc dần lại. Phần bã được cho thêm nước và sắc cho sôi tiếp 10 phút nữa. Chắt kiệt và lọc lần thứ hai. Dồn nước chiết lần hai này vào nồi đang cô, cô nhỏ lửa dần dần cho đến khi còn lại chừng hai lít.

Bước thứ hai: Dùng một nồi dung tích hai lít, sắc nhân sâm và đương quy lần lượt hai nước như khi sắc linh chi và tam thất. Cuối cùng khi nào nước linh chi và tam thất đã cạn đến mức một lít thì dồn cả hai loại nước sắc này làm một rồi cô lửa nhỏ cho đến khi chỉ còn lại chừng 0,5 lít. Ta đã được cao lỏng linh chi, trong đó có mặt linh chi, tam thất, nhân sâm và đương quy. (Còn nữa)

NGND-PGS.TS PHAN VĂN CÁC
Theo Báo Người cao tuổi

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Công dụng thủy sâm


Thuỷ sâm KARGASOK
(Bài của giáo sư Từ Giấy, viện trưởng Viện Dinh dưỡng – Bộ Y tế- dịch từ Báo Pravda)
Người Nga gọi là kargasok. Người Nhật gọi là Kompucha
Khi đến vùng Kargasok (thuộc Liên Xô cũ), người ta khám phá ra nơi này có nhiều người sống trên 100 tuổi. Tất cả đều khoẻ mạnh. Lạ nhất là ông lão 130 tuổi mới cưới vợ mà lại có con. Một bà lão 88 tuổi vấn quan hệ với chồng 100 tuổi như độ trung niên. Một người Nhật rất thích, tìm đến phỏng vấn bà lão 88 tuổi để khám phá điều bí mật (bà lão không có một nếp nhăn nào). Ngưới Nhật mới tìm hiểu ra là dân trong vùng, mỗi nhà ở đó từ già đến trẻ mỗi ngày đều uống vài ly nhỏ thuỷ sâm kargasok.


Để có thể tạo ra được thứ thuỷ sâm này, người Nga trong vùng gây bằng thứ nấm men đặc biệt. Người Nhật mang thứ nấm này về và tiếp tục gây giống. Sau đó thuỷ sâm được người Nhật phổ biến trong giới quý tộc.
Sau một thời gian dài uống thuỷ sâm, một ông có bệnh cao huyết áp đã giảm hẳn. Những người khác có bệnh huyết áp liền uống và cũng thấy hiệu nghiệm. Những người có chứng nổi mụn ở vòng hông khỏi hết.
Ở vùng Kargasok, không ai biết bệnh ung thư và cao huyết áp là gì. Ở Nhật thuỷ sâm là đề tài người ta đưa lên truyền thanh.
Hiện nay hàng triệu gia đình người Nhật uổng thuỷ sâm trong suốt cuộc đời. Thuỷ sâm được làm quà biếu trong giới quý tộc, truyền từ nước này sang nước khác, biểu hiện của tình thương và chăm sóc sức khoẻ cho nhau.
Thủy sâm là loại thuốc bổ lành mạnh và sáng ngời như một thần dược, phòng và chống được nhiều căn bệnh. Mọi nỗi thống khổ đều tiêu tan sau một thời gian dùng thuỷ sâm này.
Hội nghị khoa học quốc tế tổ chức tại Nhật Bản năm 1997 đánh giá thuỷ sâm có 3 chất cơ bản mà nếu không có các chất ấy thì con người không thể hình thành ra được và rất quan trọng trong việc chống lão hoá.
Thuỷ sâm có phải là vị cứu tinh cho bệnh ung thư không? Các nhà khoa học đã phân nghiệm và tổng hợp từ thuỷ sâm các chất chống ung thư.
Theo giáo sư, TS, bác sĩ Paupell ở Nhật thì thuỷ sâm có thể trị dứt/hoặc giảm bớt các bệnh sau đây và kéo dài cuộc sống không thể ngờ:
1. Đái tháo đường.
2. Cao huyết áp.
3. Bệnh tái đỏ, nổi mụn vòng quanh bụng.
4. Chống lão hoá, giảm nếp nhăn trên trán, mặt.
5. Chống ung thư.
6. Làm sáng mắt.
7. Làm cơ bắp rắn chắc hơn.
8. Chữa khỏi bệnh chai mạch máu do sự chậm tiêu hoá các chất độc khi ăn uống.
9. Mỏi nhức gân cốt, xuyên, lác, ung nhọt, lở loét.
10. Sung sức về sinh lý, cơ thể cường tráng.
11. Chữa các bệnh trong đường đông mạch máu.
12. Chữa chân tay đổ mồ hôi, đau lưng và các khớp xương.
13. Chữa mắt có vấng nâu xám làm mờ mắt sưng húp.
14. Mất ngủ, làm ăn ngon hơn.
15. Trị sạm mặt, đau gan, đau bao tử.
16. Trị các bệnh mật, tiêu chảy.
17. Trị chóng mặt, ói mửa khi đi tàu xe.
18. Trị bệnh trĩ, làm tóc đen trở lại, mọc thêm tóc.
Lấy 3 lít nước sôi pha với 5 gói chè lipton và 2,5 lạng đường. Vớt bã chè ra để nươc nguội.
Đổ nước cũ ở bình ra lọ riêng, dùng vải lọc lại nước. Rủa sạch bình. Lấy thuỷ sâm ra , dùng nước sôi để nguội rửa sạch. Cho thuỷ sâm vào bình, đổ một cốc nước cũ làm mồi sau đó đổ nước mới vào. Một tuần thay nước một lần. Uống nước cũ.
Chú ý: Để chè ngấm tới lúc nguội, sau đó pha đường theo tỷ lệ của người uống sao cho hơi nhạt là vừa. Cấm đổ nước nóng làm chết giống.
Cách dùng:
Mỗi ngày uống 2 lần vào buổi sáng sớm và trước khi đi ngủ. Mỗi lần uống 100 ml (Uống suốt đời rất tốt).

Kinh nghiệm làm thủy sâm

Công dụng của thủy sâm đã giới thiệu trong bài: Thủy sâm

Bài này trình bày cách làm thủy sâm trong gia đình để uống hàng ngày.

Bước 1. Xin một con thủy sâm làm giống.

Bạn có thể xin miễn phí một con thủy sâm ở những người đang dùng thủy sâm để uống hàng ngày vì sau mỗi lần làm họ phải bỏ 1 con thủy sâm còn sống đi. Cách mang con thủy sâm về nhà: dùng 1 chiếc lọ hay hộp để cho con thủy sâm vào, đổ nước thủy sâm cũ cho ngập con thủy sâm, nước này sẽ làm mồi cho lần làm đầu tiên của bạn, không đậy kín lọ (nếu đậy kín con thủy sâm sẽ chết). Sau khi mang lọ về nhà bạn bắt đầu thực hiện bước 2.


Bước 2. Chọn lọ

Nên chọn lọ bằng chất liệu thủy tinh có đường kính thiết diện mặt nước khoảng 12 cm, phần trong của lọ chứa được 3 lít nước, miệng lọ rộng.



Bước 3. Chuẩn bị nước chè

Làm cho 2 người uống: đun sôi 3 lít nước, sau đó cho 5 gói chè Lipton vào nồi đậy vung kín khoảng 10 phút cho ra hết chất chè, mở vung, cho 250 gam đường trắng khuấy đều, để cho nước chè thật nguội.

Nếu làm cho 1 người uống thì theo tỷ lệ: 2 lít nước + 4 gói chè Lipton + 160 gam đường.

Bước 4. Nuôi thủy sâm

Cho thủy sâm vào lọ thủy tinh, cho nước thủy sâm cũ làm mồi, đổ nước chè vừa làm vào lọ. Trên miệng lọ đậy bằng vải màn hay nắp lọ có các lỗ thủng, nếu đậy kín con thủy sâm trong bình sẽ chết. Để lọ trong nhà ở nơi thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời.

Sau 1 ngày con thủy sâm sẽ từ đáy lọ nổi lên trên mặt nước. Sau đó nếu con thủy sâm chìm xuống đáy bình là bị chết, thủy sâm nổi là vẫn còn sống. Trong quá trình để bình, con thủy sâm cũ sẽ sinh ra con thủy sâm mới nằm phía trên con cũ, con mới dần lớn lên rộng bằng lòng bình, còn nước chè sẽ có vị chua, sinh men và có ga.

Trời bình thường để bình khoảng 7 ngày là được, trời nóng là 5 ngày, trới rét có thể để 10 ngày. Khi nếm thấy nước chua vừa vừa là được, đừng để nước chua quá. Sang bước 5.

Bước 5. Lấy nước thủy sâm và bảo quản

Bỏ thủy sâm trong lọ ra bát.

Đổ nước thủy sâm từ bình ra các chai (tốt nhất là chai thủy tinh), đổ từ từ để gạn nước trong. Còn khoảng 150 ml thì để lại sau làm mồi, phần ở đáy bình có nhiều cặn thì bỏ đi.
Cho các chai thủy sâm vào tử lạnh để dùng dần (nếu để ngoài nước thủy sâm sẽ chua thêm). Mỗi người 1 ngày uống 2 lần: sáng dậy và trước khi đi ngủ, mỗi lần 100 ml.

Bước 6. Làm lọ thủy sâm mới

Rửa lọ cũ thật sạch, tráng qua nước sôi, lău sạch.

Bóc lấy con thủy sâm mới nằm ở trên con cũ để làm bình mới. Con cũ vẫn dùng tốt, nếu không có ai xin thì vứt đi, hoặc đem nuôi trong một lọ nhỏ cũng bằng nước chè đường để bán dần cho người khác.

Con thủy sâm dùng để làm bình mới cần phải rửa sạch bằng nước lã thông thường để sạch các chỗ bẩn và nhớt. Sau đó chuyển lên làm theo Bước 3.

Hương Cỏ May, 21/9/2011, 16h10

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Kỳ diệu giấm táo pha mật ong

SGTT - Giấm táo pha mật ong là thức uống – vị thuốc có giá trị dinh dưỡng cao, giúp phòng và chữa được nhiều bệnh.

Lợi ích của giấm táo pha mật ong đã được ghi nhận từ thời La Mã cổ đại. Quân lính của Julius Caesar, một lãnh tụ quân sự và chính trị kiệt xuất của La Mã cổ xưa, đã từng dùng dược liệu này để có sức khoẻ dẻo dai và phòng bệnh khi tham gia vào cuộc chiến với các nước. Người Ai Cập hiện nay cũng xem phương thuốc này là một thành tựu nổi bật của y học dân gian.

Cách làm giấm táo

Ngoài axít acetic như những loại giấm khác, thành phần axít malic được coi là một tác dụng đặc biệt của giấm táo (có ích cho quá trình tiêu hoá thức ăn). Nồng độ enzyme cao trong giấm cũng giúp loại bỏ các tế bào chết, phân giải các phân tử béo. Trong giấm táo còn chứa nhiều muối khoáng quan trọng với cơ thể. Hàm lượng potassium giúp điều hoà huyết áp và giữ cho nhịp đập tim ở mức ổn định, giảm căng thẳng thần kinh. Các chất chống oxy hoá có trong giấm táo ngăn chặn quá trình lão hoá, giúp khử độc cơ thể hiệu quả. Còn mật ong là vị thuốc có khả năng diệt khuẩn, chứa nhiều chất khoáng như sắt, đồng, mangan, manhê… và các loại vitamin tối cần thiết.

Để làm giấm táo, cần có một ký táo không quá chín (táo tây hay táo ta đều được, nếu được táo mèo càng tốt). Rửa sạch bằng nước muối hơi mặn để diệt khuẩn, chờ ráo nước rồi bổ nhỏ ra. Để cả hạt, ngâm với ba lít nước sôi, đợi nguội còn hơi ấm. Sau đó, cho vào hai quả chuối sứ (chuối tây) có tác dụng giúp cho táo nhanh lên men. Đựng giấm trong lọ thuỷ tinh, bịt kín bằng vải màn. Sau một tháng lọc lấy nước giấm táo, dùng dần. Giấm có màng là tốt còn như thấy có muỗi bay lên là bị hư, phải làm lại.

Một số công dụng chữa bệnh

Tuỳ từng loại bệnh mà có thể dùng kết hợp thêm giấm táo pha mật ong với một số chất hỗ trợ khác:

Suy nhược mạn tính, khó ngủ: dùng ba muỗng nhỏ giấm táo và ba muỗng nhỏ mật ong, đổ tất cả vào chai cổ rộng, để ở đầu giường. Trước khi ngủ, khoảng lúc 20 giờ, uống hai muỗng nhỏ. Nếu chưa ngủ được, uống hai muỗng nữa. Cứ mỗi lần thức dậy, uống tiếp hai muỗng.

Cao huyết áp: cho giấm táo với mật ong (mỗi thứ hai muỗng nhỏ) vào ly nước đun sôi để nguội. Uống hết sau bữa ăn.

Viêm xoang chảy nước mũi, nước mắt: dùng hai muỗng nhỏ giấm táo, hai muỗng nhỏ mật ong, một giọt dung dịch iốt lugol, hoà chung trong ly nước, uống trong bữa ăn. Uống đều từ 1 – 3 tuần. Cách khác, mỗi ngày uống một ly nước có pha ba muỗng nhỏ giấm táo với ba muỗng mật ong, nếu có thì nhai thêm một miếng sáp ong (nhả bã). Bài thuốc này rất hiệu nghiệm với viêm mũi dị ứng.

Ho dai dẳng: lấy giấm táo, mật ong, glycerin mỗi thứ hai muỗng nhỏ. Ho ban ngày thì uống ngày hai lần vào sáng và chiều, mỗi lần 1 – 2 muỗng. Ho ban đêm thì uống trước khi đi ngủ và một lần nữa vào lúc nửa đêm. Nếu ho nhiều, uống sáu lần một ngày, chia đều từ sáng đến tối.

Đau họng, viêm amidan: pha một muỗng nhỏ giấm táo, nửa muỗng mật ong vào một cốc nước ấm, súc miệng. Còn một ít ngậm nuốt từ từ. Mỗi giờ súc và ngậm nuốt một lần. Bắt đầu đỡ thì hai giờ làm một lần.

Viêm khớp: sau mỗi bữa ăn, uống một ly nước pha 10 muỗng nhỏ giấm táo, năm muỗng mật ong, uống ấm.

Đau bàng quang, viêm thận: uống thường xuyên hàng ngày một ly nước có pha hai muỗng nhỏ giấm táo, hai muỗng mật ong. Trường hợp bị nước tiểu có mủ, sau bữa ăn uống một ly nước có pha hai muỗng giấm táo, một muỗng mật ong.

Những người không có bệnh, dùng giấm táo pha mật ong vào nước uống hàng ngày cũng sẽ giúp khoẻ mạnh, giảm nguy cơ mắc bệnh và cung cấp nhiều chất dinh dưỡng bổ ích cho cơ thể. Tuy nhiên cần lưu ý, do vị chua và nồng độ axít của giấm, nên những người có tiền sử đau dạ dày, bị viêm loét dạ dày tá tràng hoặc đang dùng một số loại kháng sinh kỵ môi trường axít… không nên dùng giấm táo.

PGS.TS Lê Văn Định - chuyên viên cao cấp về y học cổ truyền

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Những người không nên dùng sữa ong chúa

Tại sao gọi là Sữa Ong chúa ? (Mật Ong chúa, Sữa chúa)

Ong thợ, ngoài nhiệm vụ đi hút mật của nhiều loại hoa đem về tổ chế biến, cô đặc thành một loại mật để làm thức ăn dự trữ cho cả đàn mà ta lấy mật đó dùng là loại Mật ong thường. để duy trì nòi giống, chúng xây thêm bên cạnh tầng mật thường một ổ riêng chứa một thứ mật đặc biệt để nuôi ấu trùng Ong chúa. Nhờ thứ mật đặc biệt này, ấu trùng Ong chúa lớn lên thành Ong chúa. Vì vậy thứ mật đặc biệt này, gọi là Mật Ong chúa, còn gọi là Sữa Ong chúa hay Sữa chúa. (Ong chúa là con cái duy nhất trong cả đàn. Ong này chỉ có nhiệm vụ đẻ trứng, không làm ra mật, chỉ ăn mật do các con ong khác đem về. Ong chúa dài và to hơn các con Ong đực và Ong thợ, thân hình mảnh dẻ và cánh ngắn hơn. Ong chúa cũng do một cái trứng như các trứng ong khác, nhưng từ khi nở ra cho đến khi thành nhộng, ấu trùng Ong chúa được nuôi bằng thứ mật đặc biệt như đã nói trên)

Sữa Ong chúa (Mật Ong chúa, Sữa chúa) khác với Mật ong thường về thành phần. Trong Sữa Ong chúa, tỉ lệ đường ít hơn, nhiều chất mỡ, chất đạm (dưới dạng Axit amin, trong đó rất nhiều xystin là một Axit amin có Sunfua) và Vitamin. Do được nuôi bằng Sữa Ong chúa, ấu trùng trở thành con Ong chúa sống 3-4 hoặc 5 năm, gấp 50 lần Ong thợ, trong khi đời sống Ong đực ngắn ngủi, chỉ 1-2 tháng và tuổi thọ trung bình của Ong thợ cũng chỉ tính bằng tháng. Những lứa sinh vào mùa Xuân và Hạ, thường chỉ sống vào khoảng 6 tuần lễ, những lứa sinh vào mùa Thu thì sống được 6 tháng !

Những người không nên dùng Sữa Ong chúa

Sữa Ong chúa là loại dinh dưỡng cao cấp, nhưng không phải ai dùng Sữa Ong chúa cũng đều tốt. Những người sau đây không nên dùng Sữa Ong chúa :

Người bị huyết áp thấp: Trong Sữa Ong chúa có những chất làm cản trở hoạt động của buồng tim, làm nở động mạch huyết quản, làm hạ huyết áp. Vì vậy, người huyết áp thấp không nên dùng Sữa Ong chúa.

Người đường huyết thấp: Trong Sữa Ong chúa có chất Albumin lạ lấy từ phấn hoa mà ra và chất độc của Mật ong, đối với người quá mẫn cảm hoặc người có phản ứng với phấn hoa thì sẽ sinh phản ứng quá mẫn cảm.

Người đau bụng đi ngoài: Trong Sữa Ong chúa có chất độc của nọc ong, gây rối loạn công năng của đường ruột. Vì vậy, người đau bụng đi ngoài không nên dùng Sữa Ong chúa.

Người có bệnh truyền nhiễm, đang sốt: Theo Đông y, bệnh truyền nhiễm là do ngoại tà dẫn đến . Khi đang sốt, việc cần thiết là phải giải nhiệt, không nên dùng Sữa Ong chúa để tăng thêm chất bổ, đề phòng bệnh sẽ kéo dài.

Người đang mang thai: Vì trong Sữa Ong chúa có chất kích thích, có tác dụng kích thích tử cung co hẹp lại, gây cản trở cho sự phát triển của thai nhi.

Nguyễn Chu Công
Theo nguoicaotuoi.org.vn

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Cẩn trọng với một số món ăn “cao cấp”

Trong cuộc sống, thực tế có những món ăn được xếp hạng “cao cấp”, ăn vào sẽ giúp khoẻ mạnh, thậm chí trẻ ra và kéo dài tuổi thọ, tuy nhiên nếu ăn không đúng cách sẽ gây tác dụng ngược lại.

Ăn nhung hươu bị nứt nẻ người?

Nhiều người cho rằng, ăn nhung hươu bị phá nứt nẻ người nên không dám ăn. Nhưng cần phải hiểu rằng, nhung hươu là một loại thực phẩm có hàm lượng đạm rất cao, nếu biết cách điều chế sẽ cung cấp một lượng acid amin rất lớn cho cơ thể. Do vậy, theo kinh nghiệm dân gian và trong y học đối với những người quá béo, sức khỏe dồi dào nếu ăn nhung hươu sẽ gây tình trạng dư thừa tố chất trong cơ thể không cần thiết chứ không phải nhung hươu gây nứt nẻ da thịt. Còn đối với những người gầy yếu, suy dinh dưỡng thì ăn nhung hươu là một điều rất tốt, cũng không phụ thuộc vào lứa tuổi.

Ăn tổ yến kéo dài tuổi thọ?

Không ít người cho rằng, ăn tổ con yến có thể kéo dài tuổi thọ, làm trẻ ra. Vậy sự thực ra sao? Tổ yến hay còn gọi là yến sào có chứa 36 - 52% protid, trong đó có tỷ lệ các acid amin cần thiết cho cơ thể, như arginin, tryptophan, histidin, cystin, tyrosin..., 30% glucid và một số khoáng chất như phospho, sắt, kẽm..., đặc biệt có acid cyalique có tác dụng kích thích sự tăng sinh tế bào.

Theo Đông y, yến sào vị ngọt, tính bình, tác dụng vào hai kinh Phế, Vị. Thường dùng làm thuốc bồi dưỡng cơ thể, tăng cường sinh lực, làm hồi phục sức khỏe cho người mới ốm dậy, kém ăn, kém ngủ, đặc biệt là những bệnh lao, hen suyễn... nên cơ thể con người có thể tăng thêm sức khỏe mà sống lâu hơn và trẻ lâu hơn.

Không nên dùng nhân sâm và sữa ong chúa?

Nhân sâm và sữa ong chúa là vị thuốc quý, có tác dụng tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, kích thích cảm giác thèm ăn... Tuy rất bổ nhưng nếu dùng nhân sâm và sữa ong chúa không đúng cách, không đúng người, đúng bệnh, dùng quá nhiều... thì lợi bất cập hại. Những trường hợp sau đây không được dùng nhân sâm và sữa ong chúa:

- Trẻ nhỏ: Sau khi uống nhân sâm và sữa ong chúa, có thể trẻ sẽ phát dục sớm hơn so với quy luật tự nhiên.

- Phụ nữ có thai: Nhân sâm làm cho người dùng bị nhiệt, sữa ong chúa thì kích thích tử cung co bóp, dùng nhiều có thể dẫn tới sảy thai.

- Người bị huyết áp thấp và đường huyết thấp.

- Người đang trong thời kỳ hậu phẫu: Nhân sâm và sữa ong chúa có thể làm cho can dương cực thịnh, khí nghẽn nhiệt vượng, dẫn đến xuất huyết ngũ quan.

- Người bị rối loạn chức năng đường ruột.

- Những người can dương thịnh, thấp nhiệt nhưng trệ như sốt cao, thổ huyết, vàng da...

- Những người có cơ địa dị ứng.

BS Phương Thuỳ Linh

Bài đăng phổ biến